Bước tới nội dung

Wehrmacht

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lực lượng vũ trang của Đức Quốc xã
Wehrmacht
Phù hiệu: Balkenkreuz[a]
Cờ hiệu: Reichskriegsflagge[b]
Khẩu hiệuGott mit uns[2]
(dịch"God [is] with us")
Thành lập16 tháng 3 năm 1935; 91 năm trước (1935-03-16)
Giải tán20 tháng 8 năm 1946; 80 năm trước (1946-08-20)[c]
Các quân chủng
Sở chỉ huyMaybach II, Wünsdorf
52°10′57″B 13°28′27″Đ / 52,1826°B 13,4741°Đ / 52.1826; 13.4741 (Maybach II)
Lãnh đạo
Chỉ huy tối cao
(1935–1945)
Tổng tư lệnh
(1935–1938)
Bộ trưởng Bộ chiến tranh
(1935–1938, 1945)
Werner von Blomberg (đầu tiên)
Karl Dönitz (cuối cùng)[d]
Tổng tư lệnh Bộ chỉ huy cấp cao Wehrmacht
(1938–1945)
Wilhelm Keitel (đầu tiên)
Alfred Jodl (cuối cùng)
Nhân lực
Tuổi nhập ngũ18–45
Cưỡng bách tòng quân1–2 năm; nghĩa vụ quân sự
Đạt tuổi nghĩa vụ
quân sự hàng năm
700,000 (1935)[5]
Số quân tại ngũ18,200,000 (tổng số lượng)[6]
Phí tổn
Ngân sách
Phần trăm GDP
Công nghiệp
Nhà cung cấp nội địa
Nhà cung cấp nước ngoài
Xuất khẩu hàng năm

Wehrmacht (phát âm tiếng Đức: [ˈveːɐ̯maxt] , n.đ.'Lực lượng phòng thủ') là lực lượng vũ trang thống nhất của Đức Quốc xã từ năm 1935 đến 1945. Wehrmacht gồm có Lục quân (Heer), Hải quân (Kriegsmarine) và Không quân (Luftwaffe). Tên gọi "Wehrmacht" thay thế cho thuật ngữ trước đó là Reichswehr (Phòng vệ Đế chế) và thể hiện nỗ lực của chế độ Quốc xã trong việc tái vũ trang Đức ở quy mô lớn hơn nhiều so với những gì Hiệp ước Versailles cho phép.[13]

Trong Thế chiến II, có khoảng 18 triệu người phục vụ trong Wehrmacht.[6] Đến khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc vào tháng 5 năm 1945, lực lượng Đức (bao gồm Heer, Kriegsmarine, Luftwaffe, Waffen-SS, và Volkssturm, và các đơn vị cộng tác viên nước ngoài) đã có khoảng 11.300.000 người chết hoặc bị bắt, trong đó khoảng 5.318.000 người bị mất tích, tử trận hoặc chết trong trại giam.[14] Trong số đó, phần lớn thương vong của quân Đức là do Hồng quân Liên Xô gây ra. Ở mặt trận Liên Xô, quân đội Đức Quốc xã và đồng minh đã bị tiêu diệt 607 sư đoàn cùng với hơn 75% vũ khí và trang thiết bị quân sự. Tổng số lính chết hoặc bị bắt của quân đội Đức và các nước đồng minh của Đức tại châu Âu (Ý, Phần Lan, Rumania, Bulgaria, Hungary, Pháp Vichy) là 13,4 triệu quân, trong đó có 10 triệu là ở mặt trận Xô-Đức.[15]

Sau khi Đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, Adolf Hitler ký lệnh thành lập Wehrmacht – một lực lượng vũ trang hiện đại với mục tiêu lâu dài là giành lại những lãnh thổ đã mất, chiếm thêm đất mới cho Đức và thống trị châu Âu. Nước Đức khôi phục chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc và đầu tư, chi tiêu quốc phòng quy mô lớn cho công nghiệp vũ khí.[16]

Wehrmacht là nòng cốt trong sức mạnh chính trị–quân sự của Đức. Trong giai đoạn đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Wehrmacht đã sử dụng chiến thuật hiệp đồng binh chủng (không kích yểm trợ tầm gần, xe tăng và bộ binh phối hợp) với hiệu quả tàn khốc trong cái gọi là Blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng). Các chiến dịch tại Pháp (1940), Liên Xô (1941)Bắc Phi (1941–1942) thường được sử gia đánh giá là táo bạo.[17] Đồng thời, mức độ tiến quân quá sâu đã đẩy khả năng bảo đảm của Wehrmacht tới giới hạn, dẫn tới thất bại lớn đầu tiên trong Trận Moskva (1941); đến cuối năm 1942, Đức đã đánh mất thế chủ động trên mọi chiến trường. Nghệ thuật tác chiến của Đức tỏ ra không sánh được với phe Đồng Minh , làm lộ rõ những điểm yếu của Wehrmacht về chiến lược, học thuyết và hậu cần.[18]

Trong mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với SS và các đội Einsatzgruppen đơn vị đặc nhiệm hành quyết), lực lượng vũ trang Đức đã phạm vô số tội ác chiến tranh (bất chấp những phủ nhận sau này và việc tuyên truyền "huyền thoại Wehrmacht trong sạch").[19] Phần lớn tội ác diễn ra trên lãnh thổ Liên Xô, Ba Lan, Nam Tư, Hy Lạp và Ý, trong khuôn khổ "cuộc chiến tiêu diệt" chống Liên Xô, Cuộc Diệt chủng Do Thái (Holocaust) và cái gọi là "chiến tranh an ninh" của Đức Quốc xã. Chỉ một số rất ít tướng lĩnh cấp cao của Wehrmacht bị đưa ra xét xử vì tội ác chiến tranh, mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy số người dính líu đến các hành động bất hợp pháp lớn hơn nhiều.[20][21] heo Ian Kershaw, phần lớn trong khoảng ba triệu lính Wehrmacht tham gia xâm lược Liên Xô đã có dính líu đến tội ác chiến tranh.[22]

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ tiếng Đức "Wehrmacht" là một từ ghép từ động từ wehren, "phòng vệ, phòng thủ" và danh từ Macht, "sức mạnh, lực lượng".[f] Nó có thể được dùng để chỉ lực lượng vũ trang của bất kỳ quốc gia nào, ví dụ như, Britische Wehrmacht nghĩa là "Lực lượng vũ trang Anh"". Bản Hiến pháp Frankfurt năm 1849 gọi toàn bộ lực lượng quân sự của nước Đức khi đó là Deutsche Wehrmacht ("Lực lượng vũ trang Đức"), trong đó bao gồm Seemacht (hải quân) và Landmacht (lục quân).[23] Năm 1919, thuật ngữ Wehrmacht cũng xuất hiện trong Điều 47 của Hiến pháp Weimar, quy định rằng "Tổng thống Đế chế nắm quyền chỉ huy tối cao đối với toàn bộ lực lượng vũ trang [tức Wehrmacht] của Đế chế." Từ năm 1919, lực lượng phòng vệ quốc gia của Đức có tên là Reichswehr, cho đến khi tên gọi này bị bãi bỏ và thay bằng Wehrmacht ngày 21 tháng 5 năm 1935[24]

Mặc dù sau Thế chiến II, trong cả tiếng Đức lẫn tiếng Anh, từ Wehrmacht thường mặc định gắn với lực lượng vũ trang Đức Quốc xã giai đoạn 1933–1945, trước năm 1945 nó được dùng theo nghĩa rộng hơn, chỉ chung lực lượng quốc phòng của một quốc gia. Ví dụ, các đơn vị người Ba Lan được Đức bảo trợ trong Thế chiến I được gọi bằng tiếng Đức là Polnische Wehrmacht ('Wehrmacht Ba Lan', 'Lực lượng phòng vệ Ba Lan').

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Lính Reichswehr tuyên thệ "Lời thề với Hitler" tháng 8 năm 1934

Tháng 1 năm 1919, sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc với hiệp định đình chiến ngày 11 tháng 11 năm 1918, lực lượng vũ trang Đức được gọi là Friedensheer ('quân đội thời bình').[25] Tháng 3 năm 1919, Quốc hội lập hiến thông qua đạo luật thành lập một quân đội tạm thời 420.000 quân, gọi là Vorläufige Reichswehr. Các điều khoản của Hiệp ước Versailles được công bố vào tháng 5, và tháng 6 năm 1919 Đức ký hiệp ước này, theo đó lực lượng vũ trang bị hạn chế rất nghiêm ngặt. Lục quân chỉ được có tối đa 100.000 quân với 15.000 lính thuộc hải quân. Hạm đội hải quân chỉ được có tối đa 6 thiết giáp hạm, 6 tuần dương hạm, và 12 khu trục hạm. Tàu ngầm , xe tăngpháo hạng nặng đều bị cấm và không quân bị giải. Một quân đội mới thời hậu chiến, Reichswehr, được thành lập ngày 23 tháng 3 năm 1921. Chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc cũng bị bãi bỏ theo yêu cầu của Hiệp ước Versailles.[26]

Reichswehr bị giới hạn chỉ 115.000 người, vì vậy dưới sự lãnh đạo của tướng Hans von Seeckt, lực lượng này chỉ giữ lại những sĩ quan tinh nhuệ nhất. Hai sử gia Mỹ Alan Millet và Williamson Murray viết: "Khi tinh giản đội ngũ sĩ quan, Seeckt đã chọn bộ chỉ huy mới từ những người ưu tú nhất của Bộ Tổng tham mưu, với thái độ hết sức lạnh lùng đối với những 'thành phần' khác như anh hùng chiến tranh hay tầng lớp quý tộc.[27] Mục tiêu của Seeckt là biến Reichswehr thành một lực lượng khung tinh nhuệ, có thể mở rộng nhanh chóng thành một quân đội lớn khi có cơ hội khôi phục chế độ tổng động viên. Điều này thực tế dẫn tới việc hình thành một quân đội mới, tuy kế thừa nhưng lại rất khác với quân đội Đức trong Thế chiến I.[27] Trong những năm 1920, Seeckt và các sĩ quan của ông xây dựng các học thuyết mới nhấn mạnh tốc độ, tinh thần chiến đấu, hiệp đồng binh chủng và trao quyền chủ động cho các sĩ quan cấp thấp để tận dụng thời cơ chiến thuật.[27]Dù Seeckt nghỉ hưu năm 1926, ảnh hưởng của ông đối với lục quân Đức vẫn còn rất rõ khi họ bước vào chiến tranh năm 1939.[28]

Theo Hiệp ước Versailles, Đức bị cấm có không quân, nhưng ngay từ đầu những năm 1920, Seeckt đã bí mật tạo ra một bộ lõi sĩ quan không quân. Trong tầm nhìn của họ, một lực lượng không quân hiện đại phải đảm nhiệm giành ưu thế trên không, ném bom chiến lược và hỗ trợ không kích tầm gần cho lực lựong mặt đất. Việc Luftwaffe sau này không phát triển lực lượng ném bom chiến lược hạng nặng không phải do thiếu quan tâm mà chủ yếu vì hạn chế kinh tế.[29] Bộ chỉ huy Hải quân, đứng đầu là Đại đô đốc Erich Raeder, học trò thân cận của Alfred von Tirpitz, theo đuổi mục tiêu tái sinh Hạm đội Biển khơi (Hochseeflotte) kiểu cũ. Những sĩ quan ủng hộ chiến tranh tàu ngầm dưới quyền Đô đốc Karl Dönitz vẫn là thiểu số trước năm 1939.[30]

Từ năm 1922, Đức bắt đầu lách các điều kiện của Versailles một cách bí mật. Một sự hợp tác ngầm với Liên Xô bắt đầu sau Hiệp ước Rapallo.[31] Năm 1923, Thiếu tướng Otto Hasse đến Moskva để đàm phán thêm. Đức sẽ giuép Liên Xô trong việc công nghiệp hóa và sĩ quan Liên Xô sẽ đựoc đào tạo tại Đức. Chuyên gia không quân và xe tăng của Đức có thể luyện tập tại Liên Xô và các dự án nghiên cứu và sản xuất vũ khí hóa học của Đức cũngd dựoc tiến hành cùng nhiều dự án khás.[32] Năm 1924, một trường phi công tiêm kích bí mật được lập tại Lipetsk, nơi trong gần một thập niên hàng trăm nhân viên không quân Đức được huấn luyện về bảo dưỡng, dẫn đường và không chiến. Đức chỉ rút khỏi đây vào tháng 9 năm 1933.[33] Toàn bộ quá trình tái vũ trang này được tiến hành trong bí mật, cho đến khi Hitler lên nắm quyền và việc mở rộng quân đội nhận được sự ủng hộ chính trị rộng rãi, trở thành nền tảng trực tiếp cho sự ra đời của Wehrmacht sau này[34]

Đảng Quốc xã lên nắm quyền

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Tổng thống Paul von Hindenburg ngày 2 tháng 8 năm 1934, Adolf Hitler tiếp quản chức vụ Tổng thống Đức, qua đó trở thành tổng tư lệnh tối cao của quân đội. Tháng 2 năm 1934, Bộ trưởng Quốc phòng Werner von Blomberg, đã tự ý cho toàn bộ binh sĩ Do Thái phục vụ trong Reichswehr bị giải ngũ ngay lập tức với hình thức bất danh dự.[35] Cũng theo sáng kiến riêng, tháng 5 năm 1934 Blomberg cho đưa các biểu tượng Quốc xã vào trên quân phục lực lượng vũ trang.[36] Đến tháng 8 cùng năm, vẫn theo sáng kiến của Blomberg và của tướng Walther von Reichenau, khi đó là cục trưởng Bộ Tham mưu Bộ Chiến tranh, toàn bộ quân đội tuyên thệ "Lời thề với Hitler", một lời thề trung thành cá nhân với Hitler. Hitler đã vô cùng ngạc nhiên trước đề nghị này; quan điểm phổ biến cho rằng Hitler áp đặt lời thề lên quân đội là không đúng sự thật.[37] Lời thề có nội dung: "Tôi thề trước Thượng đế lời thề thiêng liêng này rằng với Lãnh tụ của Đế chế Đức và nhân dân Đức, Adolf Hitler, tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, tôi sẽ tuyệt đối tuân phục vô điều kiện và với tư cách một người lính dũng cảm, tôi sẽ luôn sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình cho lời thề này."[38]

Đến năm 1935, Đức đã công khai phớt lờ các hạn chế quân sự trong Hiệp ước Versailles: ngày 16 tháng 3, việc tái vũ trang được công bố với "Sắc lệnh về việc xây dựng Wehrmacht" (tiếng Đức: Gesetz für den Aufbau der Wehrmacht)[39] kèm theo việc tái áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc.[40] Mặc dù quân số quân thường trực vẫn được nói là giữ ở mức khoảng 100.000 người như hiệp ước quy định, mỗi năm sẽ có thêm một nhóm tân binh với quân số tương đương được gọi nhập ngũ để huấn luyện. Luật nghĩa vụ quân sự này chính thức đưa tên gọi Wehrmacht vào sử dụng; Reichswehr được đổi tên thành Wehrmacht ngày 21 tháng 5 năm 1935.[41] Trong bản tuyên bố về sự ra đời của Wehrmacht, Hitler dự trù lực lượng này sẽ gồm ít nhất 36 sư đoàn, vi phạm Hiệp ước Versailles một cách công khai và phô trương. Tháng 12 năm 1935, tướng Ludwig Beck còn bổ sung 48 tiểu đoàn xe tăng vào chương trình tái vũ trang đã hoạch định.[42] Ban đầu, Hitler đặt ra thời hạn 10 năm cho việc tái vũ trang, nhưng nhanh chóng rút ngắn xuống còn 4 năm.[43] Với việc tái quân sự hóa vùng Rheinland và sáp nhập Anschluss, lãnh thổ Đế chế Đức được mở rộng đáng kể, cung cấp một nguồn dân số lớn hơn để gọi nhập ngũ theo chế độ nghĩa vụ.[44]

Quân số và tuyển dụng

[sửa | sửa mã nguồn]
Men standing in line waiting for a medical check
Kiểm tra sức khỏe lính nghĩa vụ

Công tác tuyển mộ cho Wehrmacht được thực hiện thông qua tình nguyện và nhập ngũ bắt buộc, trong giai đoạn 1935–1939 có khoảng 1,3 triệu người bị gọi nhập ngũ và 2,4 triệu người tự nguyện đăng ký.[45][5] Tổng số binh sĩ đã phục vụ trong Wehrmacht từ 1935 đến 1945 được cho là lên tới khoảng 18,2 triệu người.[6] Giới lãnh đạo quân sự Đức ban đầu hướng tới xây dựng một lực lượng đồng nhất về mặt xã hội, mang các giá trị quân sự Phổ truyền thống. Tuy nhiên, do Hitler liên tục yêu cầu mở rộng quy mô Wehrmacht, lục quân buộc phải tiếp nhận công dân thuộc tầng lớp thấp hơn, trình độ học vấn kém hơn, làm giảm tính cố kết nội bộ và dẫn đến việc bổ nhiệm một số sĩ quan thiếu kinh nghiệm thực chiến, nhất là kinh nghiệm từ Thế chiến thứ nhấtnội chiến Tây Ban Nha.[46] Hiệu quả trong đào tạo và tuyển chọn sĩ quan của Wehrmacht được xem là một trong những yếu tố chính giải thích các chiến thắng ban đầu cũng như khả năng kéo dài cuộc chiến ngay cả khi cục diện đã chuyển sang bất lợi cho Đức.[47][48] Khi Thế chiến II leo thang, nhân sự của Kriegsmarine (hải quân) và Luftwaffe (không quân) ngày càng bị điều sang lục quân, đồng thời việc "tự nguyện" gia nhập SS cũng được đẩy mạnh. Sau trận Stalingrad năm 1943, tiêu chuẩn về thể lực và sức khỏe đối với tân binh Wehrmacht bị hạ thấp rõ rệt; chế độ còn lập ra các "tiểu đoàn khẩu phần đặc biệt" như Sư đoàn bộ binh số 70 dành cho những người mắc bệnh dạ dày nặng. Quân nhân thuộc lực lượng hậu phương ngày càng bị đẩy ra tiền tuyến, đặc biệt là trong hai năm cuối của cuộc chiến, khi tầng lớp già nhất và trẻ nhất đều bị huy động.[49]

An African in German uniform sitting on a chair, next to two other soldiers having a cigarette
An Afro-Arab soldier of the Free Arabian Legion

Trước Thế chiến II, Wehrmacht cố gắng duy trì tính chất "thuần Đức" về mặt sắc tộc; vì vậy, nhiều nhóm thiểu số trong và ngoài lãnh thổ Đức chẳng hạn như người Séc ở Tiệp Khắc bị sáp nhập được miễn nghĩa vụ quân sự sau khi Hitler thôn tính khu vực này năm 1938. Tình nguyện viên ngoại quốc nói chung không được chấp nhận vào lực lượng vũ trang Đức trước năm 1941.[49] Với cuộc xâm lược Liên Xô năm 1941, đường lối này thay đổi. Bộ máy tuyên truyền Đức muốn trình bày cuộc chiến không phải chỉ là lợi ích riêng của Đức, mà là một "cuộc thập tự chinh đa quốc gia" chống lại cái gọi là "chủ nghĩa Bolsevich Do Thái".[50] Từ đó, WehrmachtSS bắt đầu tuyển mộ ở các nước bị chiếm đóng và trung lập trên khắp châu Âu: người "gốc Germanic" ở Hà LanNa Uy chủ yếu được đưa vào SS, còn những dân tộc "không Germanic" được tuyển vào Wehrmacht. Tính "tự nguyện" của việc tuyển mộ này thường rất đáng ngờ, nhất là những năm cuối chiến tranh, khi ngay cả người Ba Lan sống ở Hành lang Ba Lan cũng bị xếp vào diện "người Đức gốc" và bắt buộc nhập ngũ.[49]

Sau thất bại ở Stalingrad, Wehrmacht cũng sử dụng rộng rãi nhân sự từ Liên Xô, bao gồm các đơn vị như Quân đoàn Hồi giáo vùng Kavkaz, Quân đoàn Turkestan, người Tatar Crimea, người Ukraine và Nga sắc tộc, Cossack và các nhóm khác, những người muốn chiến đấu chống lại chế độ Xô viết hoặc bị dụ dỗ, ép buộc gia nhập.[49] Ước tính có khoảng 15.000–20.000 người Nga "Bạch vệ" chống cộng (đã rời nước Nga sau Cách mạng Nga) tham gia hàng ngũ WehrmachtWaffen-SS, trong đó khoảng 1.500 người làm phiên dịch, và hơn 10.000 người phục vụ trong lực lượng gác bảo vệ của "Quân đoàn Bảo vệ Nga"[51][52]

1939194019411942194319441945
Heer3,737,0004,550,0005,000,0005,800,0006,550,0006,510,0005,300,000
Luftwaffe400,0001,200,0001,680,0001,700,0001,700,0001,500,0001,000,000
Kriegsmarine50,000250,000404,000580,000780,000810,000700,000
Waffen–SS35,00050,000150,000230,000450,000600,000830,000
Total4,220,0006,050,0007,234,0008,310,0009,480,0009,420,0007,830,000
Nguồn:[53]

Huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]

Đức và Áo bị sáp nhập được chia thành 18 quân khu (Wehrkreise), từ đó toàn bộ binh sĩ được tuyển mộ và huấn luyện. Các quân khu được lệnh sử dụng danh sách đăng ký do cảnh sát lưu giữ để bắt đầu gọi nhập ngũ tất cả nam giới đã đủ 20 tuổi.[54] Khi tân binh về trung đoàn để bắt đầu huấn luyện ban đầu, họ thường đến từ cùng vùng địa phương và đã quen biết một số người trong tiểu đoàn, thậm chí trong cả trung đoàn. Tuy nhiên, trong 16 tuần huấn luyện đầu tiên, các mối quan hệ chủ yếu chỉ giới hạn trong những đồng đội trực tiếp của họ. Tân binh được sắp xếp phòng theo từng tiểu đội (Korporalschaft), và được giới thiệu với tiểu đội trưởng, (Gefreiter), người này có nhiệm vụ giành được sự tôn trọng và rèn luyện tính kỷ luật của họ trong khi làm nhiệm vụ. Các tân binh cũng gặp trung sĩ trung đội (Feldwebel), và trung đội trưởng của mình trong những lần xuất hiện ngắn ngủi ở giai đoạn đầu huấn luyện. Sĩ quan thường sẽ đọc bài thuyết trình về vai trò của Lục quân Đức trong xã hội Đức. Tại thời điểm này, tân binh chính thức bị cấm duy trì bất kỳ hoạt động chính trị nào. Quy định này buộc cả đảng viên Đảng Quốc xã cũng phải gắn bó với những người không phải đảng viên, bất kể sở thích cá nhân.[55]

Nội dung và cường độ huấn luyện khác nhau tùy theo doanh trại hoặc cơ sở huấn luyện. Một số nơi nổi tiếng vì kỷ luật cực kỳ hà khắc, gần như tàn bạo, trong khi những nơi khác tuy ít khắc nghiệt hơn nhưng vẫn triệt để không kém. Mỗi tiểu đội chịu trách nhiệm giữ vệ sinh phòng được phân trong suốt 16 tuần. Tân binh được phát quân phục và trang bị cá nhân, bị cắt tóc rất ngắn và được ăn bữa quân ngũ đầu tiên khoảng 18 giờ. Sau đó, họ tham dự một buổi giáo dục tư tưởng về truyền thống và tinh thần của quân đội Đức, cũng như lịch sử trung đoàn của họ. Tân binh được hướng dẫn cách mặc quân phục đúng quy định và phải gói ghém quần áo dân sự gửi trả về gia đình vào ngày hôm sau. Từ thời điểm đó trở đi, họ chính thức là lính, chịu sự quản lý bằng kỷ luật quân sự. Họ được dạy các lễ nghi trong quân đội, như chào trong nhà và ngoài trời, và phải thể hiện sự tôn trọng đối với mọi quân nhân cấp trên mà họ gặp.[55]

Một ngày huấn luyện điển hình của tân binh bắt đầu lúc 5 giờ sáng, khi hạ sĩ và binh sĩ phụ trách huấn luyện trong doanh trại ra lệnh tân binh thức dậy. Tân binh phải tháo ga giường, sắp xếp tủ đồ, rửa mặt, cạo râu và mặc đồ trước khi ăn sáng. Nhiều buổi sáng còn kèm theo các bài chạy bộ với quãng đường và tốc độ tăng dần, rồi lại tắm rửa và thay quân phục. Bữa sáng gồm cà phê và bánh mì được quy định vào lúc 6 giờ 45, cho họ khoảng 15 phút để ăn. Tuy nhiên, bữa này thường bị cắt nếu tân binh đang bận tập luyện hoặc diễn tập để sửa lỗi của ngày hôm trước. Họ nhanh chóng học được rằng đói, mệt hay khó chịu cá nhân đều bị xem là chuyện nhỏ; họ phải luôn sẵn sàng trong mọi tình huống.[55]

Các buổi thuyết trình là phần thường xuyên của thời khóa biểu, với những chủ đề như: nghĩa vụ của người lính đối với đồng đội, vai trò của người lính đối với Nhà nước, và cơ cấu hệ thống thứ bậc Quốc xã. Huấn luyện chiến đấu trong giờ học lý thuyết thì không nhiều, vì quân đội Đức nhấn mạnh vào huấn luyện thực hành ngoài thực địa. Mỗi ngày huấn luyện được chia thành buổi sáng và buổi chiều. Một buổi sáng điển hình có thể gồm một bài giảng, rồi tập điều lệnh trên sân duyệt binh; buổi chiều có thể là huấn luyện thể lực và bắn súng. Khi có, bữa trưa (Mittagessen), bữa chính trong ngày – được dọn lúc 12 giờ 30. Đến 13 giờ 30, toàn bộ tân binh tập trung trên sân duyệt binh để điểm danh và nghe thông báo. Ban đầu, buổi duyệt binh này do trung sĩ trung đội chỉ huy; khi huấn luyện tiến triển thì đến thượng sĩ đại đội (Hauptfeldwebel), rồi trung đội trưởng, trợ lý đại đội và cuối cùng là đại đội trưởng. Tân binh ít khi tiếp xúc với sĩ quan trong giai đoạn huấn luyện, vì trọng tâm là rèn luyện để họ có thể hoạt động độc lập ở cấp tiểu đội và trung đội, không cần phụ thuộc vào sự hiện diện thường xuyên của sĩ quan – những người có thể không có mặt ngoài chiến trường.[55]

Buổi tối dành cho việc dọn dẹp: bảo quản quân phục, trang bị, súng trường, trung liên và phòng ở. Bữa tối (Abendbrot) được phục vụ lúc 18 giờ 30. Các hoạt động bổ sung thường kéo dài ngày làm việc đến khuya; khi huấn luyện tiến triển, các bài tập và diễn tập ban đêm diễn ra ngày càng thường xuyên.[55]

Quân đội Đức chia huấn luyện thành hai mảng: huấn luyện ngoài thực địa và huấn luyện trong doanh trại. Huấn luyện ngoài thực địa gồm các kỹ năng thực tế thiết yếu cho sinh tồn và chiến đấu: điều lệnh trên sân, kỹ thuật dã chiến, sử dụng vũ khí, đọc bản đồ và các bài tập chiến thuật khác. Huấn luyện trong doanh trại tập trung vào vệ sinh cá nhân, bảo dưỡng vũ khí và những việc thường nhật như lau sàn, xếp giường, và các công việc nội vụ khác. Những hoạt động này không chỉ rèn kỷ luật mà còn tăng tinh thần đồng đội trong tiểu đội, tạo nên mối gắn bó kéo dài đến cả khi ra chiến trường.[55]

Tân binh được phát đủ quần áo và trang bị cần thiết, và họ phải chịu trách nhiệm giữ cho mọi thứ sạch sẽ và trong tình trạng tốt. Đồ hỏng sẽ được cấp mới khi cần, nhưng chỉ khi hư hại trong lúc huấn luyện hoặc diễn tập. Việc bảo quản giày ủng được nhấn mạnh đặc biệt, vì giày bị chăm sóc kém hoặc không vừa chân có thể dẫn tới chấn thương nghiêm trọng ở chân, khiến binh sĩ bị loại khỏi hàng ngũ – điều bị coi là rất nghiêm trọng và dễ dẫn đến kỷ luật. Chấn thương chân do cẩu thả bị xem như một lỗi kỷ luật. Mỗi sáng, tân binh phải tháo ga giường để cho giường "thở", vì vệ sinh trong doanh trại là ưu tiên cao. Giường bị ướt mồ hôi phải khô trước khi được trải lại vào đầu giờ chiều, trước buổi điểm danh. Tủ đồ cũng thường xuyên bị kiểm tra và phải được giữ gọn gàng, dù quân đội Đức không đẩy lên mức "bóng loáng" như một số quân đội khác; sạch sẽ và ngăn nắp là bắt buộc, nhưng không đòi hỏi bóng như gương hay xếp giường chính xác đến từng milimét.[55]

Quân phục tiêu chuẩn cho tân binh là màu trắng, rất nhanh trở nên "bất tiện" trong huấn luyện. Theo thời gian, giặt nhiều khiến vải bạc màu sang vàng hoặc xám. Bộ đồ này đi kèm giày cổ thấp, thắt lưng và mũ mềm. Việc khó giữ quân phục trắng sạch cho các buổi kiểm tra càng củng cố trách nhiệm cá nhân đối với vệ sinh và ngoại hình. Tân binh cũng chịu trách nhiệm phần việc vệ sinh được phân công trong phòng, tiếp tục rèn luyện tính kỷ luật. Sai sót hoặc vi phạm kỷ luật bị trừng phạt nhanh chóng bằng những hình phạt mang tính thể lực. Khác với một số quân đội khác – nơi hình phạt có thể là đánh bóng thùng rác hay sơn cỏ – quân đội Đức xem hình phạt là cơ hội huấn luyện thêm. Những hình phạt thường gặp gồm chạy đường dài với đầy đủ trang bị dã chiến hoặc thực hiện các bài tập khó như bò qua bùn, lội suối và các bài vận động nặng khác. Điều này vừa mang tính trừng phạt, vừa tăng cường thể lực và sức chịu đựng cần thiết cho người lính.[55]

Sự tuân lệnh và kỷ luật được củng cố thêm qua các bài điều lệnh bộ binh và điều lệnh súng trường rất nghiêm ngặt. Tân binh dành rất nhiều giờ trên sân duyệt binh trong suốt 16 tuần huấn luyện, trung bình khoảng 30 buổi điều lệnh mỗi tuần, kể cả duyệt binh tập hợp và duyệt binh trước bữa ăn. Điều lệnh súng trường không chỉ là "diễn" cho đẹp, mà còn bao gồm các thao tác chiến đấu thiết thực như nạp đạn, tháo đạn, bảo đảm an toàn, vệ sinh vũ khí. Cách huấn luyện toàn diện này giúp tân binh vừa đạt mức kỷ luật kỳ vọng, vừa có kỹ năng thực tế cần cho chiến đấu.[55]

Đào tạo sĩ quan

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, công tác đào tạo sĩ quan ở Đức được cải tổ toàn diện và kéo dài hơn dưới thời Hans von Seeckt. Ứng viên sĩ quan phải trải qua gần bốn năm huấn luyện, bắt đầu bằng hai năm phục vụ trong đơn vị, sau đó là khoảng mười tháng rưỡi tại trường bộ binh và mười tháng rưỡi tại trường vũ khí. Trọng tâm vẫn là phát triển cá nhân, nhưng có thêm nhiều môn học mang tính học thuật. Chương trình bao gồm: chiến thuật, công nghệ vũ khí, công binh, nghiên cứu địa hình, tổ chức quân đội, giáo dục công dân, phòng không, thông tin liên lạc, công nghệ xe cơ giới, lý thuyết giáo dục thể chất, vệ sinh và quản trị quân sự. Ở trường binh chủng, một số môn lý thuyết được bổ sung thêm lịch sử quân sự và các môn chuyên sâu như toán, lý, hóa, với lịch sử quân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng.[56]

Cho tới năm 1937, hệ thống đào tạo sĩ quan được chia thành ba giai đoạn: huấn luyện cơ bản tại đơn vị, học ở trường sĩ quan, rồi ở trường binh chủng, sau đó tiếp tục phục vụ thực tế; việc phong quân hàm sĩ quan thường diễn ra sau khoảng hai năm. Giảng dạy ở trường sĩ quan ngày càng thiên về thực hành, với nhiều giờ chiến thuật hơn, và thay vì giáo dục công dân thì có một giờ về "nguyên lý Quốc xã". Sau khi chiến tranh bùng nổ, ngày càng nhiều phần đào tạo bị thay thế bằng phục vụ trực tiếp ngoài mặt trận. Cho đến cuối năm 1942, ứng viên sĩ quan trải qua mô hình kết hợp giữa huấn luyện và chiến đấu, nhưng mô hình này phải điều chỉnh do thương vong quá lớn.[56]

Từ mùa thu năm 1942, những binh sĩ dày dạn mà ban đầu không theo con đường sĩ quan cũng có thể được phong sĩ quan theo đề nghị của chỉ huy; tiêu chí chủ yếu là năng lực chỉ huy, phẩm chất cá nhân và thành tích quân sự. Điều này cho phép hàng chục nghìn hạ sĩ quan và binh sĩ được phong lên sĩ quan trong chiến tranh. Trong quá trình Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc đào tạo chính quy tại trường sĩ quan ngày càng được thay thế bằng kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Cho đến cuối năm 1942, con đường điển hình là: sáu tháng huấn luyện trong quân dự bị, ba tháng phục vụ tiền tuyến, ba tháng ở trường sĩ quan, rồi thêm hai đến bốn tháng nữa ở tiền tuyến; sau tổng cộng 14–18 tháng thì được phong sĩ quan.[56]

Sĩ quan tham mưu

[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến giữa Chiến tranh thế giới thứ hai, việc trở thành sĩ quan thuộc Bộ Tham mưu là con đường chính để được ưu tiên thăng chức và đạt đến cấp tướng trong Lục quân Đức. Bộ Tham mưu được xem như một tầng lớp tinh hoa độc quyền, có uy tín và ảnh hưởng rất lớn. Trước Thế chiến thứ nhất, việc tuyển chọn vào Học viện Chiến tranh (Kriegsakademie) dựa trên kỳ thi hằng năm về các môn quân sự và kiến thức chung, trong đó nhấn mạnh chiến thuật. Sau năm 1920, kỳ thi này trở thành bắt buộc đối với mọi sĩ quan, nhằm đánh giá kiến thức, tính cách và phẩm chất cá nhân. Khóa học ba năm tại Học viện Chiến tranh nhằm đào tạo các chuyên gia về tác chiến, đặc biệt là cho vị trí Sĩ quan tham mưu thứ nhất (Ia) của một sư đoàn. Các môn học chính là chiến thuật và lịch sử quân sự, bổ sung bởi: công tác tham mưu, tổ chức quân đội, tình báo địch, bảo đảm hậu cần, vận tải, kỹ thuật vũ khí. Sang năm thứ ba tại Berlin, học viên còn học thêm các môn phi quân sự như ngoại ngữ, chính trị đối nội và đối ngoại, và kinh tế.[57]

Chương trình đào tạo bao gồm: các bài giảng, bài tập, hội thảo, tự nghiên cứu, lập kế hoạch, diễn tập mô phỏng chiến tranh và các chuyến đi thực địa của bộ tham mưu tới những chiến trường lịch sử. Vào mùa hè, học viên được phân về nhiều binh chủng khác nhau để có cái nhìn thực tế. Điểm nhấn quan trọng nhất là chuyến "hành quân bộ tham mưu" kéo dài hai tuần, trong đó họ phải mô phỏng và chuẩn bị chi tiết một chiến dịch lớn; kết quả ở phần này có ý nghĩa quyết định trong đánh giá cuối cùng. Việc tuyển chọn sĩ quan tham mưu dựa vào sự quan sát và đánh giá cá nhân rất chặt chẽ của ban huấn luyện, không có kỳ thi tốt nghiệp viết. Những phẩm chất được tìm kiếm gồm: trí tuệ, khả năng ra quyết định, óc sáng tạo, sức chịu đựng và độ tin cậy. Sau khi tốt nghiệp, sĩ quan sẽ được phân về Bộ Tham mưu làm "thử việc" trong 1–2 năm trước khi chính thức được chấp nhận.[57]

Học viện Chiến tranh (Kriegsakademie) bị đóng cửa khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, vì người ta dự đoán chiến tranh sẽ ngắn và số sĩ quan tham mưu đang thiếu hụt. Khóa ba năm được thay bằng các khóa tám tuần, nặng về thực hành, tập trung vào: chiến thuật, hậu cần – tiếp tế, vận tải, công tác tham mưu, tình báo địch. Tiêu chí về tính cách và khả năng tư duy độc lập vẫn đóng vai trò then chốt; khoảng 80% học viên tốt nghiệp được đánh giá là "phù hợp". Từ năm 1942, khi nhu cầu về sĩ quan tham mưu tiếp tục tăng, chương trình đào tạo lại được tái cấu trúc gồm 6 tháng thực tập tại bộ tham mưu sư đoàn, 3 tháng ở một bộ tham mưu cấp cao hơn, 8 tuần đào tạo tập trung, rồi thêm một đợt thử việc 6 tháng nữa, tổng cộng khoảng 1,5 năm. Do thời gian thực tập thường diễn ra ngay tại mặt trận, tỉ lệ thương vong trong số học viên khá cao – điều này phản ánh niềm tin của người Đức rằng chính chiến tranh là "người thầy" tốt nhất.[57]

Cơ cấu chỉ huy

[sửa | sửa mã nguồn]
Drawing of the structure of the Wehrmacht (1935–1938)
Cơ cấu của Wehrmacht (1935–1938)
Drawing of the structure of the Wehrmacht (1939–1945)
Cơ cấu của Wehrmacht (1939–1945)

Về mặt pháp lý, tổng tư lệnh của Wehrmacht là Adolf Hitler với tư cách nguyên thủ quốc gia Đức, một vị trí mà ông ta nắm được sau cái chết của Tổng thống Paul von Hindenburg vào tháng 8 năm 1934. Với việc thành lập Wehrmacht năm 1935, Hitler tự nâng mình lên làm Tổng Tư lệnh Các Lực lượng Vũ trang,[58] giữ chức vụ này cho đến khi tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1945.[59] Danh hiệu Tổng Tham mưu trưởng được trao cho Bộ trưởng Reichswehr Werner von Blomberg, người đồng thời được đổi tên chức vụ thành Bộ trưởng Chiến tranh Đế chế (Reichsminister der Krieg).[58] Sau Vụ bê bối Blomberg–Fritsch, Blomberg từ chức và Hitler giải tán hẳn Bộ Chiến tranh.[60] Thay cho bộ này, Bộ Chỉ huy Tối cao Wehrmacht Oberkommando der Wehrmacht (OKW) do Thống chế Wilhelm Keitel đứng đầu được lập ra.[61]

Đặt dưới quyền OKW là ba Bộ chỉ huy tối cao binh chủng: Oberkommando des Heeres (OKH), Oberkommando der Marine (OKM), và Oberkommando der Luftwaffe (OKL). OKW được dự định là sẽ đóng vai trò tổng hành dinh liên quân và điều phối mọi hoạt động quân sự, với Hitler ở trên đỉnh hệ thống.[62] Nhiều sĩ quan cấp cao, như Erich von Manstein, đã từng đề nghị thành lập một Bộ Tổng tư lệnh liên quân thực sự, hoặc bổ nhiệm một Tổng tham mưu trưởng liên quân duy nhất, nhưng Hitler từ chối. Ngay cả sau thất bại tại Stalingrad, Hitler vẫn không chấp nhận, lập luận rằng Göring, với cương vị Reichsmarschall và là "phó" của Hitler, sẽ không chịu phục tùng bất cứ ai khác hoặc coi mình ngang hàng với các tư lệnh binh chủng khác.[63] Dù vậy, một lý do khả dĩ hơn là Hitler lo sợ việc này sẽ phá vỡ hình ảnh "bàn tay Midas" của ông ta trong lĩnh vực chiến lược quân sự.[63]

Với việc lập ra OKW, Hitler củng cố quyền kiểm soát của mình đối với Wehrmacht. Nếu như lúc đầu chiến tranh ông ta còn phần nào kiềm chế, thì về sau Hitler ngày càng can thiệp sâu vào các chiến dịch quân sự ở mọi cấp độ.[64]

Ngoài ra, giữa ba Bộ chỉ huy tối cao binh chủng và OKW tồn tại một sự thiếu gắn kết rõ rệt, khi các tướng lĩnh cấp cao không nắm rõ nhu cầu, khả năng và hạn chế của các binh chủng khác.[65] Với việc Hitler giữ vai trò Tổng Tư lệnh tối cao, các bộ tư lệnh binh chủng thường xuyên phải "tranh giành ảnh hưởng" với Hitler. Ảnh hưởng này không chỉ đến từ cấp bậc hay năng lực, mà còn từ việc Hitler đánh giá ai là trung thành với mình, dẫn tới cạnh tranh giữa các binh chủng hơn là sự phối hợp thống nhất giữa các cố vấn quân sự của ông ta.[66]

Danh sách các thống chế

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Werner von Blomberg (1878-1946), chết khi bị bắt giữ
  2. Hermann Göring (1893-1946), tự tử
  3. Walther von Brauchitsch (1881-1948), chết khi bị bắt giữ
  4. Albert Kesselring (1885-1960), được trả tự do
  5. Wilhelm Keitel (1882-1946), bị Đồng Minh xử tử
  6. Günther von Kluge (1882-1944), tự tử
  7. Wilhelm Ritter von Leeb (1876-1956), bị án tù
  8. Fedor von Bock (1880-1945), tử trận
  9. Wilhelm List (1880-1971), được trả tự do
  10. Erwin von Witzleben (1881-1944), bị Quốc xã sát hại
  11. Walther von Reichenau (1884-1942), tử trận
  12. Erhard Milch (1892-1972), bị án tù
  13. Hugo Sperrle (1885-1953), được tha bổng
  14. Gerd von Rundstedt (1875-1953), bị giam sau đó thả về
  15. Eduard Freiherr von Böhm-Ermolli (1856-1941), về hưu
  16. Erwin Rommel (1891-1944), tự tử
  17. Georg von Küchler (1881-1968), được trả tự do vì sức khỏe
  18. Erich von Manstein (1887-1973), cố vấn cho Thủ tướng Konrad Adenauer
  19. Friedrich Paulus (1890-1957), bị Liên Xô bắt làm tù binh, được trả tự do sau chiến tranh
  20. Paul Ludwig Ewald von Kleist (1881-1954), bị án tù
  21. Maximilian Reichsfreiherr von Weichs (1881-1954), không bị truy tố
  22. Ernst Busch (1885-1945), chết khi bị bắt giữ
  23. Wolfram Freiherr von Richthofen (1895-1945), chết khi bị bắt giữ
  24. Walther Model (1891-1945), tự tử
  25. Ferdinand Schörner (1892-1973), bị án tù
  26. Robert Ritter von Greim (1892-1945), tự tử
  27. Erich Raeder (1876 -1960), bị án tù
  28. Karl Dönitz (1891-1980), bị án tù
  1. Phù hiệu của Wehrmacht, Balkenkreuz, là một dạng cách điệu của Huân chương Thập tự Sắt, được sử dụng với nhiều tỷ lệ khác nhau.
  2. (phiên bản 1938–1945)[1]
  3. Việc giải thể chính thức Wehrmacht bắt đầu với văn kiện Đầu hàng của Đức ngày 8 tháng 5 năm 1945. Điều này được khẳng định lại trong Tuyên ngôn số 2 của Hội đồng Kiểm soát Đồng minh ngày 20 tháng 9 năm 1945; Luật số 34 của Hội đồng Kiểm soát chính thức tuyên bố giải thể Wehrmacht vào ngày 20 tháng 8 năm 1946.[3][4]
  4. Bộ này được chính thức phục hồi vào tháng 4 năm 1945, khi Karl Dönitz được chỉ định làm Bộ trưởng Chiến tranh trong di chúc của Hitler.
  5. Tổng GDP: 75 tỉ (1939) và 118 tỉ (1944)[7]
  6. Xem văn bản Wiktionary để biết thêm thông tin.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Davis, Brian Leigh (1975). Flags and Sttandards of the Third Reich: Army, Navy and Air Force 1933-1945. New York: Arco Publishing Company Inc. tr. 81. ISBN 978-0-668-03620-7.
  2. Armbrüster 2005, tr. 64.
  3. Allied Control Authority 1946a, tr. 81.
  4. Allied Control Authority 1946b, tr. 63.
  5. 1 2 Müller 2016, tr. 12.
  6. 1 2 3 Overmans 2004, tr. 215; Müller 2016, tr. 16; Wette 2006, tr. 77.
  7. Harrison 2000, tr. 10.
  8. Tooze 2006, tr. 181.
  9. Evans 2008, tr. 333.
  10. Leitz 2000, tr. 66.
  11. Department of State 2016.
  12. Leitz 1998, tr. 153.
  13. Taylor 1995, tr. 90–119.
  14. Fritz 2011, tr. 470.
  15. "Liên Xô đã đập tan chủ nghĩa phát xít". Bộ Quốc phòng Liên bang Nga. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
  16. Kitchen 1994, tr. 39–65.
  17. van Creveld 1982, tr. 3.
  18. Müller 2016, tr. 58–59.
  19. Hartmann 2013, tr. 85–108.
  20. Wette 2006, tr. 195–250.
  21. USHMM n.d.
  22. Kershaw 1997, tr. 150.
  23. Huber 2000.
  24. Strohn 2010, tr. 10.
  25. Wheeler-Bennett 1967, tr. 60.
  26. Craig 1980, tr. 424–432.
  27. 1 2 3 Murray & Millett 2001, tr. 22.
  28. Wheeler-Bennett 1967, tr. 22.
  29. Murray & Millett 2001, tr. 33.
  30. Murray & Millett 2001, tr. 37.
  31. Wheeler-Bennett 1967, tr. 131.
  32. Zeidler 2006, tr. 106–111.
  33. Cooper 1981, tr. 382–383.
  34. Müller 2016, tr. 10.
  35. Förster 1998, tr. 268.
  36. Wheeler-Bennett 1967, tr. 312.
  37. Kershaw 1997, tr. 525.
  38. Broszat và đồng nghiệp 1999, tr. 18.
  39. Müller 2016, tr. 7.
  40. Fischer 1995, tr. 408.
  41. Stone 2006, tr. 316.
  42. Tooze 2006, tr. 208.
  43. Müller 2016, tr. 12–13.
  44. Müller 2016, tr. 13.
  45. U.S. War Department 1945, tr. I-57.
  46. Müller 2016, tr. 13–14.
  47. Miller 2013, tr. 292–293.
  48. Kjoerstad 2010, tr. 6.
  49. 1 2 3 4 U.S. War Department 1945, tr. I-3.
  50. Förster 1998, tr. 266.
  51. Beyda 2014, tr. 448.
  52. Müller 2014, tr. 222.
  53. Müller 2016, tr. 36.
  54. Lucas 2000, tr. 4.
  55. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 McNab 2011, tr. 36–42.
  56. 1 2 3 van Creveld 1982, tr. 170–172.
  57. 1 2 3 van Creveld 1982, tr. 182–185.
  58. 1 2 documentArchiv.de 2004, §3.
  59. Broszat 1985, tr. 295.
  60. Stein 2002, tr. 18.
  61. Megargee 2000, tr. 41–42.
  62. Hayward 1999, tr. 104–105.
  63. 1 2 Hayward 1999, tr. 105–106.
  64. Müller 2016, tr. 18–20.
  65. Hayward 1999, tr. 105.
  66. Hayward 1999, tr. 106.

Tài liệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trực tuyến

[sửa | sửa mã nguồn]