Bước tới nội dung

Daniel Day-Lewis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Daniel Day-Lewis
Day-Lewis vào năm 2025
SinhDaniel Michael Blake Day-Lewis
29 tháng 4, 1957 (69 tuổi)
Kensington, London, Anh, Anh Quốc
Tư cách công dânAnh Quốc, Ireland
Trường lớpBristol Old Vic Theatre School
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1970–2017
Phối ngẫu
Rebecca Miller (cưới 1996)
Bạn đờiIsabelle Adjani
(1989–1995)
Con cái3
Cha mẹ
Người thânTamasin Day-Lewis (chị gái)
Michael Balcon (ông ngoại)

Sir Daniel Michael Blake Day-Lewis (sinh ngày 29 tháng 4 năm 1957) là một diễn viên người Anh.[1][2] Ông thường được đánh giá là một trong những diễn viên vĩ đại nhất lịch sử điện ảnh, nổi tiếng với phương pháp diễn xuất nhập vai (method acting) và việc thể hiện những nhân vật lập dị trong các bộ phim của những đạo diễn theo trường phái tác giả. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu, trong đó có kỷ lục ba giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất, cùng bốn giải BAFTA, ba giải Actor Awards và hai giải Quả cầu Vàng. Năm 2014, Day-Lewis được phong tước Hiệp sĩ (Knight Bachelor) vì những đóng góp cho nghệ thuật kịch.[3]

Sinh ra và lớn lên tại London, Day-Lewis sớm thể hiện năng khiếu diễn xuất trên sân khấu tại National Youth Theatre trước khi được nhận vào Bristol Old Vic Theatre School, nơi ông theo học trong ba năm. Mặc dù được đào tạo theo phương pháp sân khấu truyền thống tại Bristol Old Vic, ông được coi là một diễn viên theo trường phái method, nổi tiếng với sự tận tâm và quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng cho từng vai diễn.[4] Day-Lewis luôn giữ kín đời tư, hiếm khi nhận lời phỏng vấn và rất ít xuất hiện trước công chúng.[5]

Trong phần lớn những năm đầu thập niên 1980, Day-Lewis hoạt động song song giữa sân khấu và điện ảnh, gia nhập Royal Shakespeare Company và đảm nhận vai Romeo Montague trong Romeo và Juliet và Flute trong Giấc mộng đêm hè. Năm 1989, khi đảm nhận vai chính trong Hamlet tại Nhà hát Quốc gia ở London, ông rời sân khấu giữa chừng trong một buổi diễn sau khi suy sụp trong cảnh hồn ma của cha Hamlet xuất hiện trước ông. Đây cũng là lần cuối cùng Day-Lewis biểu diễn trên sân khấu.[6] Sau các vai phụ trong những bộ phim Gandhi (1982) và The Bounty (1984), ông nhận được nhiều lời khen ngợi nhờ những vai diễn đột phá trong My Beautiful Laundrette (1985), A Room with a View (1985) và The Unbearable Lightness of Being (1988).

Ông đã giành ba giải Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất với các vai diễn Christy Brown trong Câu chuyện về Christy Brown (1989), ông trùm dầu mỏ Daniel Plainview trong Máu sẽ phải đổ (2007) và Abraham Lincoln trong Lincoln (2012). Ông từng được đề cử Oscar với các phim Nhân danh cha (1993), Băng đảng New York (2002) và Bóng ma sợi chỉ (2017). Những bộ phim đáng chú ý khác của ông gồm Người Mohicans cuối cùng (1992), The Age of Innocence (1993), The Crucible (1996) và The Boxer (1997). Ông từng hai lần tuyên bố rút lui khỏi nghiệp diễn, lần đầu từ năm 1997 đến năm 2000, khi ông chuyển sang học nghề đóng giày tại Ý, và lần thứ hai từ năm 2017 đến năm 2024. Năm 2025, ông trở lại màn ảnh với vai chính trong Anemone, bộ phim do con trai ông, Ronan Day-Lewis, đạo diễn và đồng biên kịch.

Tiểu sử và học vấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Daniel Michael Blake Day-Lewis sinh ngày 29 tháng 4 năm 1957 tại Kensington, London, là người con thứ hai của nhà thơ Cecil Day-Lewis và người vợ thứ hai của ông, nữ diễn viên Jill Balcon. Chị gái của ông, Tamasin Day-Lewis, là đầu bếp truyền hình và nhà phê bình ẩm thực.[7] Cha của Day-Lewis, sinh tại thị trấn Ballintubbert, hạt Laois, Ireland, có nguồn gốc Anh–Ireland theo đạo Tin Lành. Ông chuyển đến Anh từ năm hai tuổi và được bổ nhiệm làm Nhà Thơ Laureate của Vương quốc Anh vào năm 1968.[8] Mẹ của Day-Lewis là người Do Thái; tổ tiên người Do Thái Ashkenazi của bà di cư đến Anh vào cuối thế kỷ 19 từ Latvia và Ba Lan.[9][10][11][12] Ông ngoại của Day-Lewis, Sir Michael Balcon, từng giữ chức lãnh đạo Ealing Studios và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền điện ảnh Anh.[13] Giải BAFTA dành cho Đóng góp Xuất sắc cho Điện ảnh Anh được trao hằng năm để tưởng nhớ Balcon.[14]

Hai năm sau khi Day-Lewis chào đời, gia đình ông chuyển đến Croom's Hill ở Greenwich, sau một thời gian sinh sống tại Port Clarence, hạt Durham. Ông và chị gái không có nhiều cơ hội gặp hai người anh cùng cha khác mẹ, những người đã ở độ tuổi thiếu niên khi cha ông ly hôn với người vợ đầu.[15] Trong thời gian sống tại Greenwich, Day-Lewis theo học tại các trường tiểu học Invicta và Sherington.[16] Tại trường, ông từng bị bắt nạt vì xuất thân Do Thái và bị xem là "quý tộc" ("posh").[17][18] Ông dần học được giọng địa phương cùng cách ứng xử của những đứa trẻ nơi đây và sau này cho rằng đó là trải nghiệm đầu tiên giúp ông có được một màn hóa thân thuyết phục.[18][19] Về sau, Day-Lewis từng tự mô tả bản thân khi còn trẻ là một người khá ngỗ nghịch, thường xuyên gặp rắc rối vì những hành vi như trộm đồ tại các cửa hàng và các vi phạm nhỏ khác.[19][20]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu thập niên 1980, Day-Lewis hoạt động trong lĩnh vực sân khấutruyền hình, tham gia Frost in May, trong đó ông đóng vai một người đàn ông trưởng thành nhưng bất lực và có tính cách trẻ con, và How Many Miles to Babylon?, với vai một sĩ quan trong Thế chiến thứ nhất bị giằng xé giữa lòng trung thành với AnhIreland, đều do BBC sản xuất. Mười một năm sau lần đầu xuất hiện trên màn ảnh, Day-Lewis đảm nhận một vai nhỏ trong bộ phim Gandhi (1982), vào vai Colin, một tên côn đồ đường phố người Nam Phi có hành vi phân biệt chủng tộc và bắt nạt nhân vật chính. Cuối năm 1982, ông có bước đột phá lớn trên sân khấu khi thay thế diễn viên chính trong Another Country, vở kịch được công diễn lần đầu vào cuối năm 1981. Tiếp đó, ông đảm nhận vai phụ John Fryer, viên sĩ quan phó tàu có nhiều giằng xé nhưng cuối cùng vẫn trung thành, trong The Bounty (1984). Sau đó, Day-Lewis gia nhập Royal Shakespeare Company, lần lượt đóng vai Romeo trong Romeo và Juliet và Flute trong Giấc mộng đêm hè.[20]

Năm 1985, Day-Lewis có màn trình diễn đầu tiên nhận được sự đánh giá cao từ giới phê bình khi vào vai một thanh niên người Anh đồng tính có mối quan hệ tình cảm với một thanh niên Pakistan trong bộ phim My Beautiful Laundrette. Do Stephen Frears đạo diễn và Hanif Kureishi viết kịch bản, bộ phim lấy bối cảnh London những năm 1980, dưới thời Margaret Thatcher giữ chức Thủ tướng.[5] Đây là bộ phim đầu tiên trong số ba tác phẩm có sự tham gia của Day-Lewis được BFI đưa vào danh sách 100 bộ phim Anh vĩ đại nhất thế kỷ 20, xếp ở vị trí thứ 50.[21] Cũng trong năm đó, Day-Lewis tiếp tục được công chúng chú ý qua A Room with a View (1985), chuyển thể từ tiểu thuyết của E. M. Forster. Lấy bối cảnh nước Anh thời Edward vào đầu thế kỷ 20, ông đóng vai Cecil Vyse, vị hôn phu thuộc tầng lớp thượng lưu của nhân vật chính Lucy Honeychurch, do Helena Bonham Carter thủ vai..[22]

Day-Lewis trong The Unbearable Lightness of Being (1988)

Năm 1987, Day-Lewis đảm nhận vai chính trong bộ phim chuyển thể The Unbearable Lightness of Being của đạo diễn Philip Kaufman, dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Milan Kundera. Ông vào vai một bác sĩ phẫu thuật người Séc có đời sống tình dục phóng túng, nhưng cuộc sống bị xáo trộn khi ông cho phép bản thân nảy sinh tình cảm với một người phụ nữ. Trong suốt tám tháng quay phim, Day-Lewis học tiếng Séc và lần đầu tiên bắt đầu duy trì trạng thái nhập vai cả trong lẫn ngoài trường quay trong toàn bộ quá trình ghi hình.[20] Trong giai đoạn này, ông được đánh giá là "một trong những diễn viên trẻ triển vọng nhất của Anh".[23] Cùng với những diễn viên trẻ người Anh khác đương thời như Gary Oldman, Colin Firth, Tim Roth và Bruce Payne, Day-Lewis được truyền thông gọi là "Brit Pack".[24]

Năm 1989, Day-Lewis tiếp tục phát triển phương pháp diễn xuất nhập vai của riêng mình qua vai Christy Brown trong bộ phim Câu chuyện về Christy Brown của đạo diễn Jim Sheridan. Vai diễn này mang về cho ông nhiều giải thưởng, trong đó có giải Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhấtgiải BAFTA cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Brown, một nhà văn và họa sĩ, mắc chứng bại não bẩm sinh và chỉ có khả năng điều khiển bàn chân trái.[25] Để chuẩn bị cho vai diễn, Day-Lewis thường xuyên đến Sandymount School Clinic ở Dublin, nơi ông kết bạn với một số người khuyết tật, trong đó có những người không thể nói được.[26] Trong quá trình quay phim, ông một lần nữa từ chối thoát khỏi nhân vật.[20] Vì phải thể hiện một nhân vật bị liệt nặng trên màn ảnh, Day-Lewis ngoài đời cũng được di chuyển quanh trường quay bằng xe lăn. Các thành viên đoàn phim phải nâng ông qua những dây cáp máy quay và thiết bị chiếu sáng, nhằm giúp ông trải nghiệm nhiều khía cạnh trong cuộc sống của Brown, bao gồm cả những tình huống gây khó xử.[19] Các thành viên đoàn phim thậm chí phải đút thức ăn cho ông.[25]Từng có tin đồn rằng Day-Lewis bị gãy hai xương sườn trong quá trình quay phim do phải ngồi ở tư thế khom người trên xe lăn trong nhiều tuần. Tuy nhiên, nhiều năm sau, ông phủ nhận thông tin này tại Liên hoan phim Quốc tế Santa Barbara năm 2013.[27]

Day-Lewis đảm nhận vai Hamlet trong vở Hamlet do Richard Eyre đạo diễn tại Nhà hát Quốc gia ở London năm 1989 (ảnh), cũng là lần cuối cùng ông xuất hiện trên sân khấu.

Năm 1989, Day-Lewis trở lại sân khấu và hợp tác với đạo diễn Richard Eyre, đảm nhận vai Hamlet trong vở Hamlet tại Nhà hát Quốc gia ở London. Tuy nhiên, trong một buổi diễn, ông suy sụp ngay ở cảnh hồn ma của cha Hamlet xuất hiện trước nhân vật.[20] Day-Lewis bật khóc không kiểm soát và từ chối trở lại sân khấu. Ông được Jeremy Northam thay thế, người đã có một màn trình diễn được đánh giá cao.[23] Ian Charleson sau đó chính thức đảm nhận vai Hamlet trong phần còn lại của đợt công diễn.[28] Trước sự cố, Day-Lewis từng nói về những "con quỷ" mà ông phải đối mặt khi thể hiện nhân vật và trong nhiều tuần đã dành toàn bộ tâm sức cho vai diễn.[23] Mặc dù sự việc ban đầu được lý giải chính thức là do kiệt sức, Day-Lewis cho biết ông đã nhìn thấy hồn ma của chính cha mình.[20][29] Sau này, ông giải thích rằng đây chủ yếu là một cách nói mang tính ẩn dụ hơn là một ảo giác: "Ở một mức độ nào đó, có lẽ tôi đã nhìn thấy hồn ma của cha mình mỗi đêm, bởi khi diễn một vở như Hamlet, bạn khai thác mọi thứ từ chính trải nghiệm của mình."[30] Kể từ đó, Day-Lewis không còn xuất hiện trên sân khấu.[31] Sự chú ý của truyền thông sau sự cố suy sụp trên sân khấu góp phần khiến ông quyết định chuyển từ Anh sang Ireland vào giữa thập niên 1990, nhằm tìm lại sự riêng tư trong bối cảnh danh tiếng ngày càng gia tăng.[32]

Chuyên môn và danh tiếng

[sửa | sửa mã nguồn]

Daniel Day-Lewis được công nhận rộng rãi là một trong những diễn viên vĩ đại nhất của thế hệ ông, nổi tiếng với phương pháp nhập vai cùng sự tận tụy và nghiên cứu sâu sắc cho từng nhân vật.[33][4] Thể hiện một "cường độ cảm xúc biến thiên", ông thường sống hoàn toàn trong nhân vật suốt toàn bộ lịch trình quay phim, thậm chí tới mức gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe bản thân.[34][25] Day-Lewis cũng là một trong những diễn viên kĩ tính nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh khi vô cùng chọn lọc kịch bản, dẫn đến việc khoảng cách giữa các vai diễn của ông có khi kéo dài nhiều năm.[35] Bên cạnh đó, ông là người rất bảo vệ cuộc sống riêng tư, hiếm khi nhận phỏng vấn và cực kỳ ít xuất hiện trước công chúng.[5]

Sau chiến thắng giải Oscar lần thứ ba vào năm 2013, đã xuất hiện nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về vị thế của Day-Lewis trong số những diễn viên vĩ đại nhất lịch sử điện ảnh.[36][37][38][39] Joe Queenan của tờ The Guardian đã nhận định: "Tranh cãi xem Daniel Day-Lewis có phải là diễn viên vĩ đại hơn Laurence Olivier, Richard Burton hay Marlon Brando hay không cũng giống như tranh luận xem Messi có tài năng hơn Pelé hay không, liệu Napoleon Bonaparte có vượt trội hơn Alexander Đại đế về tài năng quân sự hay không."[38] Bản thân Day-Lewis khi được hỏi về cảm giác như thế nào khi là "diễn viên vĩ đại nhất thế giới", ông chỉ trả lời: "Điều đó thật ngớ ngẩn đúng không? Nó luôn thay đổi theo thời gian mà."[40]

Daniel Day-Lewis nhận được sự tôn trọng vô cùng lớn từ các đồng nghiệp trong ngành. Vào tháng 6 năm 2017, Michael Simkins của tờ The Guardian đã viết: "Trong cái hố lấp lánh mà chúng ta gọi là nghề diễn xuất này, có rất nhiều diễn viên đối thủ, nhờ may mắn thuần túy hay sự tình cờ, có được sự nghiệp mà chính chúng ta cũng có thể sở hữu nếu các lá bài rơi theo cách khác. Nhưng Day-Lewis, theo sự thừa nhận chung ngay cả trong những phòng chờ hậu trường ghen tị nhất, là một đẳng cấp hoàn toàn khác biệt. Chúng ta sẽ không thể thấy một ai giống như ông ấy nữa, ít nhất là trong một thời gian tới. Những diễn viên sở hữu cường độ cảm xúc biến ảo như ông ấy chỉ xuất hiện một lần trong một thế hệ."[34]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1971 Sunday Bloody Sunday Child vandal Không được ghi danh
1982 Gandhi Colin
1984 The Bounty John Fryer
1985 My Beautiful Laundrette Johnny National Board of Review Award for Best Supporting Actor
New York Film Critics Circle Award for Best Supporting Actor
A Room with a View Cecil Vyse
1986 Nanou Maxo
1988 The Unbearable Lightness of Being Tomas Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Stars and Bars Henderson Dores
1989 Eversmile, New Jersey Dr. Fergus O'Connell
My Left Foot Christy Brown Academy Award for Best Actor
BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Evening Standard British Film Award for Best Actor
London Film Critics Circle Award for Best Actor
Los Angeles Film Critics Association Award for Best Actor
Montreal World Film Festival Award for Best Actor
Montreal World Film Festival - Prize of the Ecumenical Jury – Special Mention (cùng với Jim Sheridan)
National Society of Film Critics Award for Best Actor
New York Film Critics Circle Award for Best Actor
Đề cử - Chicago Film Critics Association Award for Best Actor
Đề cử - European Film Award for Best Actor
Đề cử - Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
1992 The Last of the Mohicans Hawkeye (Nathaniel Poe) Evening Standard British Film Award for Best Actor
London Film Critics' Circle Award for British Actor of the Year
Đề cử - BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
1993 The Age of Innocence Newland Archer Đề cử - Chicago Film Critics Association Award for Best Actor
In the Name of the Father Gerry Conlon Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Đề cử - Academy Award for Best Actor
Đề cử - BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
Đề cử - David di Donatello Award for Best Foreign Actor
Đề cử - Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
1996 The Crucible John Proctor Đề cử - New York Film Critics Circle Award for Best Actor
1997 The Boxer Danny Flynn Đề cử - Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
2002 Gangs of New York William "Bill the Butcher" Cutting BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
Broadcast Film Critics Association Award for Best Actor (Tied with Jack Nicholson for About Schmidt)
Central Ohio Film Critics Association Award for Best Actor
Chicago Film Critics Association Award for Best Actor
Florida Film Critics Circle Award for Best Actor
Gransito Movie Award for Best Actor in a Leading Role
Italian Online Movie Award for Best Actor in a Leading Role
Kansas City Film Critics Circle Award for Best Actor
Las Vegas Film Critics Society Award for Best Actor
Los Angeles Film Critics Association Award for Best Actor (Tied with Jack Nicholson for About Schmidt)
New York Film Critics Circle Award for Best Actor
New York Film Critics Online Award for Best Actor
Online Film Critics Society Award for Best Actor
Russian Guild of Film Critics Award for Best Foreign Actor
San Diego Film Critics Society Award for Best Actor
Satellite Award for Best Actor – Motion Picture Drama (Tied with Michael Caine for The Quiet American)
Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Male Actor in a Leading Role
Seattle Film Critics Award for Best Actor
Southeastern Film Critics Association Award for Best Actor
Vancouver Film Critics Circle Award for Best Actor
Đề cử - Academy Award for Best Actor
Đề cử - Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Đề cử - Dallas-Fort Worth Film Critics Association Award for Best Actor
Đề cử - Empire Award for Best Actor
Đề cử - Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
Đề cử - MTV Movie Award for Best Villain
Đề cử - Phoenix Film Critics Society Award for Best Actor
Đề cử - Washington D.C. Area Film Critics Association Award for Best Actor
2005 The Ballad of Jack and Rose Jack Slavin Marrakech International Film Festival Award for Best Actor
Widdington Film Critics Society Award for Best Actor
2007 There Will Be Blood Daniel Plainview Academy Award for Best Actor
Alliance of Women Film Journalists Award for Best Actor
Austin Film Critics Association Award for Best Actor
BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
Broadcast Film Critics Association Award for Best Actor
Central Ohio Film Critics Association Award for Best Actor
Chicago Film Critics Association Award for Best Actor
Chlotrudis Award for Best Actor
Dallas-Fort Worth Film Critics Association Award for Best Actor
Evening Standard British Film Award for Best Actor
Florida Film Critics Circle Award for Best Actor
Gransito Movie Award for Best Actor in a Leading Role
Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
Houston Film Critics Society Award for Best Actor
IndieWire Critics’ Poll Award for Best Performance
International Online Film Critics' Poll Award for Best Actor
Irish Film Award for Best International Actor
Italian Online Movie Award for Best Actor in a Leading Role
Kansas City Film Critics Circle Award for Best Actor
Las Vegas Film Critics Society Award for Best Actor
London Film Critics Circle Award for Best Actor
Los Angeles Film Critics Association Award for Best Actor
National Society of Film Critics Award for Best Actor
New York Film Critics Circle Award for Best Actor
New York Film Critics Online Award for Best Actor
North Texas Film Critics Association for Best Actor
Online Film Critics Society Award for Best Actor
Palm Springs International Film Festival – Desert Palm Achievement Award
Phoenix Film Critics Society Award for Best Actor
San Diego Film Critics Society Award for Best Actor
Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Male Actor in a Leading Role
St. Louis Gateway Film Critics Association Award for Best Actor
Southeastern Film Critics Association Award for Best Actor
Utah Film Critics Association Award for Best Actor
Vancouver Film Critics Circle Award for Best Actor
Village Voice Film Poll – Best Actor
Women Film Critics Circle Award for Best Actor
Đề cử - Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Đề cử - Detroit Film Critics Society Award for Best Actor
Đề cử - Empire Award for Best Actor
Đề cử - Saturn Award for Best Actor
2009 Nine Guido Contini Satellite Award for Best Cast – Motion Picture
Đề cử - Broadcast Film Critics Association Award for Best Cast
Đề cử - Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Musical or Comedy
Đề cử - Satellite Award for Best Actor – Motion Picture Musical or Comedy
Đề cử - Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Cast in a Motion Picture
Đề cử - Washington D.C. Area Film Critics Association Award for Best Ensemble
2012 Lincoln Abraham Lincoln Academy Award for Best Actor
AACTA International Award for Best Actor
Alliance of Women Film Journalists Award for Best Actor
BAFTA Award for Best Actor in a Leading Role
Black Film Critics Circle Award for Best Actor
Boston Online Film Critics Association Award for Best Actor
Boston Society of Film Critics Award for Best Actor
Broadcast Film Critics Association Award for Best Actor
Central Ohio Film Critics Association Award for Best Actor
Chicago Film Critics Association Award for Best Actor
Dallas-Fort Worth Film Critics Association Award for Best Actor
Denver Film Critics Society Award for Best Actor
Detroit Film Critics Society Award for Best Actor for Best Actor
Dorian Awards for Performance of the Year – Actor
Florida Film Critics Circle Award for Best Actor
Georgia Film Critics Association Award for Best Actor
Golden Globe Award for Best Actor – Motion Picture Drama
Houston Film Critics Society Award for Best Actor
Indiana Film Critics Association Award for Best Actor
Iowa Film Critics Award for Best Actor
Irish Film Award for Best International Actor
Kansas City Film Critics Circle Award for Best Actor
Las Vegas Film Critics Society Award for Best Actor
National Society of Film Critics Award for Best Actor
New York Film Critics Circle Award for Best Actor
New York Film Critics Online for Best Actor
North Texas Film Critics Association Award for Best Actor
Oklahoma Film Critics Circle Award for Best Actor
Online Film Critics Society Award for Best Actor
Phoenix Film Critics Society Award for Best Actor
San Diego Film Critics Society Award for Best Actor
Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Male Actor in a Leading Role
Southeastern Film Critics Association Award for Best Actor
St. Louis Gateway Film Critics Association Award for Best Actor
Washington D.C. Area Film Critics Association Award for Best Actor
Women Film Critics Circle Award for Best Actor
Đề cử - International Online Film Critics' Poll Award for Best Actor
Đề cử - London Film Critics' Circle Award for Best British Actor of the Year
Đề cử - London Film Critics' Circle Award for Best Actor of the Year
Đề cử - North Carolina Film Critics Association for Best Actor
Đề cử - Satellite Award for Best Actor – Motion Picture
Đề cử - Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Cast in a Motion Picture
Đề cử - Toronto Film Critics Association Award for Best Actor
Đề cử - Utah Film Critics Association Award for Best Actor
Đề cử - Vancouver Film Critics Circle Award for Best Actor

Truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1980 Shoestring DJ Tập: "The Farmer Had a Wife"
1981 Thank You, P.G. Wodehouse Psmith TV movie
Artemis 81 Library Student
1982 How Many Miles to Babylon? Alex
Frost in May Archie Hughes-Forret Tập: "Beyond the Glass"
1983 Play of the Month Gordon Whitehouse Tập: "Dangerous Corner"
1985 My Brother Jonathan Jonathan Dakers Phim điện ảnh truyền hình

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Appelo, Tim (ngày 8 tháng 11 năm 2012). "Daniel Day-Lewis Spoofs Clint Eastwood's Obama Chair Routine at Britannia Awards (Video)". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. I know as an Englishman it's absolutely none of my business.
  2. "Daniel Day-Lewis Q&A; -". Time Out. ngày 20 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2024. If I really chose to look at myself, I'd say that probably the thing I'm least interested in about myself is the fact that I'm a middle-class Englishman.
  3. "Queen's Honours: Day-Lewis receives knighthood". BBC News. ngày 13 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2014.
  4. 1 2 Parker, Emily (ngày 23 tháng 1 năm 2008), "Sojourner in Other Men's Souls", The Wall Street Journal, lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2017, truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018
  5. 1 2 3 Rainey, Sarah (ngày 1 tháng 3 năm 2013). "My brother Daniel Day-Lewis won't talk to me any more". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2016.
  6. Trueman, Matt (ngày 12 tháng 10 năm 2012). "Did Daniel Day-Lewis see his father's ghost as Hamlet? That is the question …". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020.
  7. "Index entry". FreeBMD. ONS. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
  8. Peter Stanford (2007). "C Day-Lewis: A Life". p. 5. A&C Black
  9. Hasted, Nick (ngày 31 tháng 1 năm 2018). "Daniel Day-Lewis: Why Britain has just lost its De Niro". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2018.
  10. David, Keren (ngày 29 tháng 11 năm 2017). "Daniel Day-Lewis opens up on his decision to quit acting". The Jewish Chronicle. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2018.
  11. Jackson, Laura (2005). Daniel Day-Lewis: the biography. Blake. tr. 3. ISBN 1-85782-557-8. Michael Balcon's family were Latvian refugees from Riga who had come to England in the second half of the 19th century. The family of his wife, Aileen Leatherman, whom he married in 1924, came from Poland.
  12. "Day-Lewis gets Oscar nod for new film". Kent News. ngày 17 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2008.
  13. Pearlman, Cindy (ngày 30 tháng 12 năm 2007). "Day-Lewis isn't suffering: 'It's a joy'". Chicago Sun-Times. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2008.
  14. "Curzon | Outstanding British Contribution to Cinema". www.bafta.org. ngày 31 tháng 1 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  15. Segal, David (ngày 31 tháng 3 năm 2005). "Daniel Day-Lewis, Behaving Totally In Character". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  16. "Things You Might Not Have Done In Greenwich: Go on a Daniel Day-Lewis Tour". Information Society. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2017.
  17. "Where did you go to, my lovely?". The Independent. ngày 16 tháng 2 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2019.
  18. 1 2 Corliss, Richard (ngày 21 tháng 3 năm 1994). "Cinema: Dashing Daniel". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  19. 1 2 3 Jenkins, Garry. Daniel Day-Lewis: The Fires Within Lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2020 tại Wayback Machine. St. Martin's Press, 1994, ASIN B000R9II4O
  20. 1 2 3 4 5 6 "Daniel Day-Lewis – Biography". TalkTalk. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2006.
  21. "British Film Institute – Top 100 British Films". cinemarealm.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017.
  22. "Daniel Day-Lewis". The Oscar Site. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009.
  23. 1 2 3 Vidal, John (ngày 18 tháng 9 năm 1989). "A Punishing System's Stress Chews Up Another Hamlet". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2020.
  24. Stern, Marlow (ngày 8 tháng 12 năm 2011). "Gary Oldman Talks "Tinker, Tailor, Soldier, Spy", "Batman" Retirement". The Daily Beast. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013.
  25. 1 2 3 "Daniel Day-Lewis aims for perfection". The Daily Telegraph. London. ngày 22 tháng 2 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.
  26. Jordan, Anthony J. (2008). The Good Samaritans – Memoir of a Biographer. Westport Books. tr. 40. ISBN 978-0-9524447-5-6.
  27. An Inspirational Journey: The Making of My Left Foot DVD, Miramax Films, 2005
  28. Peter, John. "A Hamlet Who Would Be King at Elsinore". Sunday Times. 12 November 1989.
  29. "Daniel Day-Lewis Q&A". Time Out. ngày 20 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  30. "Daniel Day-Lewis: 10 defining roles from the method master". BBC. ngày 31 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020.
  31. Miller, Julie (ngày 20 tháng 6 năm 2017). "Daniel Day-Lewis Quits Acting: A History of His Fascinating Retirement Attempts". Vanity Fair. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020.
  32. Jessica Winter (ngày 20 tháng 1 năm 2013). "Daniel Day-Lewis". The Observer Magazine.
  33. Gritten, David (ngày 22 tháng 2 năm 2013). "Daniel Day-Lewis: the greatest screen actor ever?". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  34. 1 2 Simkins, Michael (ngày 22 tháng 6 năm 2017). "Actors usually envy each other. But Daniel Day-Lewis is a class apart". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2019. Most of us would start any list of those few truly exceptional actors – the shape-shifters as they are sometimes called, individuals who can inhabit another character in its entirety without ever lapsing into impersonation – with Marlon Brando, then veer off into a truculent debate about whether Laurence Olivier was the greatest of them all or just an old ham with stale tricks. Robert De Niro would get a mention of course – Meryl Streep, no doubt. But almost everyone would finish with Day-Lewis.
  35. Hirschberg, Lynn (ngày 11 tháng 11 năm 2007). "The New Frontier's Man". The New York Times Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018.
  36. Gritten, David (ngày 22 tháng 2 năm 2013). "Daniel Day-Lewis: the greatest screen actor ever?". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
  37. Bowles, Scott (ngày 24 tháng 2 năm 2013). "Is Daniel Day-Lewis now the greatest actor of all time?". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2016.
  38. 1 2 Queenan, Joe (ngày 25 tháng 2 năm 2013). "Oscars 2013: do his three Oscars make Daniel Day-Lewis the greatest?". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.
  39. Dargis, Manohla; Scott, A.O. (ngày 25 tháng 11 năm 2020). "The 25 greatest actors of the 21st century (so far)". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  40. Allen, Nick (ngày 25 tháng 2 năm 2013). "Oscars 2013: Daniel Day-Lewis says it is 'daft' to call him best actor ever". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]