Magnus Carlsen
| Magnus Carlsen | |
|---|---|
Magnus Carlsen năm 2024 | |
| Tên | Sven Magnus Øen Carlsen |
| Quốc gia | Na Uy |
| Sinh | 30 tháng 11, 1990 Tønsberg, Vestfold, Na Uy |
| Danh hiệu | Đại kiện tướng (2004) |
| Vô địch thế giới | 2013 – 2022 |
| Elo FIDE | [https://ratings.fide.com/profile/1503014 2833 ] (2.2025) |
| Elo cao nhất | 2882 (05/2014 và 08/2019) |
| Thứ hạng | Hạng 1 (09/2024) |
| Thứ hạng cao nhất | Hạng 1 (Lần đầu: 01/2010) |
Sven Magnus Qen Carlsen (tiếng Na Uy: Sven Magnus Øen Carlsen, IPA: [svɛn ˈmɑ̀ŋnʉs øːn ˈkɑːɭsn̩]) sinh ngày 30 tháng 11 năm 1990 [1][2]) là một đại kiện tướng cờ vua người Na Uy, nguyên là nhà vô địch cờ vua thế giới, là đương kim vô địch cờ vua nhanh thế giới và đương kim vô địch cờ vua chớp thế giới. Carlsen lần đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng thế giới của FIDE năm 2010 và chỉ thua Garry Kasparov về thời gian là kỳ thủ có Elo cao nhất trên thế giới. Hệ số Elo cờ tiêu chuẩn cao nhất của anh là 2882, cao nhất trong lịch sử.
Là một thần đồng cờ vua, Carlsen giành danh hiệu đồng giải nhất trong Giải vô địch cờ vua U12 thế giới năm 2002. Ngay sau khi bước sang tuổi 13, anh đã hoàn thành đầu tiên trong nhóm C của giải đấu cờ vua Corus và giành được danh hiệu đại kiện tướng vài tháng sau đó. Năm 15 tuổi, anh đã thắng giải Giải vô địch cờ vua Na Uy, và năm 17 tuổi, anh đã đứng đồng giải nhất trong nhóm hàng đầu của giải cờ Corus. Anh đã vượt qua mức ELO 2800 ở tuổi 18 và đạt vị trí số một trong bảng xếp hạng FIDE thế giới ở tuổi 19, trở thành người trẻ nhất từng đạt được những chiến công đó.
Carlsen trở thành nhà vô địch cờ vua thế giới năm 2013 bằng cách đánh bại Viswanathan Anand. Năm sau, anh bảo vệ thành công danh hiệu của mình trước Anand, vô địch cả Giải vô địch nhanh thế giới 2014 và Giải vô địch blitz thế giới 2014, do đó trở thành kỳ thủ đầu tiên đồng thời giữ cả ba danh hiệu; một kỳ tích anh đã lặp lại vào năm 2019. Anh bảo vệ danh hiệu vô địch thế giới cờ tiêu chuẩn của mình sau khi đánh bại Serge Karjakin vào năm 2016, Fabiano Caruana vào năm 2018 và Ian Nepomniachtchi vào năm 2021.
Được biết đến với phong cách tấn công khi còn là thiếu niên, Carlsen đã phát triển thành một kỳ thủ toàn diện. Anh sử dụng nhiều kiểu khai cuộc khác nhau để khiến đối thủ khó chuẩn bị hơn khi thi đấu và làm giảm hiệu quả của phân tích cờ trên máy tính. Anh đã tuyên bố trung cuộc là giai đoạn yêu thích của anh khi chơi cờ vì nó "trở lại với cờ vua thuần túy". Khả năng chơi cờ thế trận (positional play) và năng lực chơi cờ tàn của Carlsen đã khiến anh được so sánh với những cựu vô địch thế giới Bobby Fischer, Anatoly Karpov, Vasily Smyslov và Jose Raúl Capablanca.
Thời thơ ấu
[sửa | sửa mã nguồn]
Carlsen sinh ra ở Na Uy vào ngày 30 tháng 11 năm 1990, là con của Sigrun Øen, một kỹ sư hóa học và Henrik Albert Carlsen, nhà tư vấn trong lĩnh vực IT. Gia đình cậu sống một năm ở Espoo, Phần Lan, sau đó chuyển đến Brussels, Bỉ rồi trở về Na Uy vào năm 1998 và định cư ở Lommedalen, Bærum. Sau đó họ chuyển đến Haslum.[3] Carlsen bộc lộ năng khiếu với những thử thách trí tuệ: khi mới 2 tuổi, cậu có thể giải trò chơi xếp hình 50 miếng, khi 4 tuổi, cậu chơi Lego với hướng dẫn dành cho trẻ em từ 10-14 tuổi.[4] Carlsen được bố dạy chơi cờ vua năm 5 tuổi mặc dù cậu không thấy hứng thú với cờ vua.[5] Carlsen có ba người chị, và năm 2010, Carlsen nói rằng một trong những điều làm cho anh có động lực chú tâm vào cờ vua xuất phát từ mong ước đánh bại chị của mình. Cuốn sách đầu tiên mà cậu đọc là của Bent Larsen: Find the Plan.[6] Carlsen tự phát triển các kỹ năng cờ vua của mình bằng cách chơi cờ vua một mình hàng giờ liền – di chuyển các quân cờ trên bàn cờ, tìm các đòn phối hợp và chơi lại các trận đấu hoặc một thế trận nào đó được bố mình dạy. Cậu tham dự giải đấu đầu tiên – hạng đấu trẻ nhất của Giải Vô địch Cờ vua Na Uy 1999 – khi 8 tuổi 7 tháng, đạt 6½/11 điểm.[7]
Carlsen sau đó được huấn luyện tại Trường Trung học Thể thao Chuyên nghiệp Na Uy (Norwegian College of Elite Sport) bởi kỳ thủ hàng đầu quốc gia, Đại kiện tướng Simen Agdestein.[8] Vào năm 2000, Agdestein giới thiệu Carlsen với Torbjørn Ringdal Hansen, một Kiện tướng Quốc tế (IM) và cựu vô địch trẻ của Na Uy. Họ bắt đầu tập luyện hàng tuần vào tháng 3. Carlsen thăng tiến rất nhanh với Hansen, giành được hơn một nghìn điểm elo trong vòng chưa đầy một năm. Giải đấu đánh dấu bước ngoặt của cậu là Giải Vô địch Cờ vua Na Uy trẻ vào tháng 9, năm 2000, khi Carlsen giành được 3½/5 trước các kỳ thủ trẻ hàng đầu Na Uy và Rating Performance (PR) khoảng 2000.[9] Ngoài việc chơi cờ mà Carlsen học từ 3 đến 4 tiếng mỗi ngày, cậu thích chơi bóng đá, trượt tuyết và đọc truyện tranh Donald Duck [10]
Từ mùa thu năm 2000 đến cuối năm 2002, Carlsen chơi khoảng 300 giải đấu tính elo, vài giải cờ chớp và một vài giải đấu nhỏ khác.[11] Cậu đạt 3 chuẩn Kiện tướng Quốc tế gần như liên tiếp: lần đầu vào tháng 1 năm 2003 tại giải Gausdall Troll Masters (7/10 điểm, 2345 PR); lần thứ hai vào tháng 6 năm 2003 tại giải Salongernas IM ở Stockholm (6/9, 2470 PR); lần thứ ba vào tháng 7 năm 2003 tại Cúp Politiken ở Copenhagen (8/11, 2503 PR). Cậu được chính thức phong là Kiện tướng Quốc tế vào ngày 20 tháng 8 năm 2003.[12] Sau khi học xong tiểu học, Carlsen nghỉ một năm để tham dự các giải đấu quốc tế tổ chức ở châu Âu trong suốt mùa thu năm 2003.[13] Cùng năm đó, cậu đồng hạng 3 tại giải Vô địch U14 châu Âu.[14]
Sự nghiệp Cờ vua
[sửa | sửa mã nguồn]| a | b | c | d | e | f | g | h | ||
| 8 | 8 | ||||||||
| 7 | 7 | ||||||||
| 6 | 6 | ||||||||
| 5 | 5 | ||||||||
| 4 | 4 | ||||||||
| 3 | 3 | ||||||||
| 2 | 2 | ||||||||
| 1 | 1 | ||||||||
| a | b | c | d | e | f | g | h | ||
2004
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen gây chú ý sau khi chiến thắng tại nhóm C ở Giải Cờ vua Corus tại Wijk aan Zee. Carlsen giành được 10½/13 điểm, chỉ thua một trận trước kỳ thủ có hệ số elo cao nhất nhóm C, Duško Pavasovič).[15] Nhờ đó, cậu đạt chuẩn Đại kiện tướng (chuẩn GM) lần đầu tiên và đạt mức performance rating là 2702. Đặc biệt đáng chú ý là chiến thắng trước Sipke Ernst ở vòng áp chót, khi Carlsen thí quân để chiếu hết chỉ trong vòng 29 nước.[16] 23 nước đầu tiên được lặp lại từ trận đấu Almagro Llanas–Gustafsson, Madrid 2003 (trận đấu kết thúc với kết quả hòa) – nhưng sự sáng tạo và tinh tế của Carlsen đã biến nó trở thành một trận thắng.
Chiến thắng của Carlsen tại nhóm C giúp cậu có một suất chơi tại nhóm B năm 2005. Điều này khiến Lubomir Kavalek, trong bài viết cho Washington Post, đã đặt cho Carlsen biệt danh "Mozart của Cờ vua". Agdestein cũng nói rằng Carlsen có một trí nhớ xuất sắc và chơi rất nhiều cách khai cuộc lạ.[17]
Tài năng của Carlsen đã làm cho Microsoft chú ý và Microsoft trở thành nhà tài trợ cho cậu.[18]
Carlsen đạt chuẩn GM thứ hai ở Moscow Aeroflot Open vào tháng 2. Vào ngày 17 tháng 3, tại giải cờ chớp ở Reykjavík, Iceland, Carlsen đánh bại cựu vô địch thế giới Anatoly Karpov. Giải cờ chớp này là giải sơ loại của giải cờ nhanh knock-out sau đó một ngày.
Tại vòng sau, Carlsen được xếp cặp với Garry Kasparov, kỳ thủ số một thế giới khi đó. Carlsen hòa trận đầu và thua trận thứ hai, do đó bị loại khỏi giải đấu.[19]
Tại giải Vô địch Cờ vua Dubai mở rộng, tổ chức từ ngày 18 đến 28 tháng 4, Carlsen đạt chuẩn GM thứ 3 và cũng là chuẩn GM cuối cùng. Cậu trở thành GM trẻ nhất thế giới lúc bấy giờ và GM trẻ thứ hai trong lịch sử cờ vua (sau Sergey Karjakin, đạt GM khi mới 12 tuổi 7 tháng),[20] mặc dù kỉ lục của cậu bị vượt qua sau này bởi Parimarjan Negi.[21] Carlsen tham dự Giải Vô địch Cờ vua Thế giới do FIDE tổ chức (FIDE World Chess Championship), qua đó trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng tham dự giải, nhưng bị Levon Aronian loại ngay ở vòng 1.[22]
Vào tháng 7, Carlsen và Berge Østenstad (đương kim vô địch Na Uy lúc bấy giờ) đứng đồng hạng nhất tại giải Vô địch Cờ vua Na Uy với 7/9 điểm. Do đó cả hai phải đấu thêm 2 ván cờ để quyết định nhà vô địch. Cả hai ván đều hòa và Østenstad trở thành nhà vô địch vì có chỉ số phụ cao hơn trong giải đấu.[23]
2005
[sửa | sửa mã nguồn]Ở Giải Smartfish Chess Masters tại Drammen International Chess Festival 2004–05, Carlsen đánh bại Alexei Shirov – hạng 10 [24] thế giới.[25] Tại bán kết giải cờ nhanh Ciudad de León vào tháng 6, Carlsen chơi 4 ván với Viswanathan Anand – hạng 2 thế giới lúc bấy giờ và là nhà vô địch cờ nhanh thế giới năm 2003.[26] Anand thắng 3-1.[27]
Tại Giải Vô địch Cờ vua Na Uy, Carlsen một lần nữa đồng hạng nhất, nhưng lần này là với huấn luyện viên của mình Simen Agdestein. Một trận đấu play-off giữa hai kỳ thủ đã được sắp xếp trong khoảng từ ngày 7 đến 10 tháng 11. Lần này Carlsen có chỉ số phụ tốt hơn. Tuy vậy, điều luật người có chỉ số phụ tốt hơn sẽ trở thành nhà vô địch nếu hòa trận play-off đã bị chỉ trích mạnh mẽ. Agdestein thắng trận đầu, Carlsen thắng trận thứ hai – do đó cả hai bước vào loạt đấu cờ nhanh cho đến khi tìm ra người thắng cuộc. Carlsen thắng ván cờ nhanh đầu tiên, Agdestein thắng ván thứ hai. Sau đó là 3 ván hòa liên tiếp. Agdestein thắng ván thứ 6 và trở thành nhà vô địch.[28]

Cuối năm 2005, Carlsen tham dự World Cup tại Khanty-Mansiysk, Nga. Đây là giải đấu có hình thức đấu loại trực tiếp. Carlsen đã gây bất ngờ khi đánh bại kỳ thủ hạng 44 thế giới Zurab Azmaiparashvili ở vòng 1, hạ gục Farrukh Amonatov và Ivan Cheparinov để vào vòng 16 người. Tại đây, Carlsen thất bại trước Evgeny Bareev,[29] nhưng sau đó thắng Joël Lautier và Vladimir Malakhov rồi thua Gata Kamsky. Chung cuộc, Carlsen kết thúc ở vị trí thứ 10 và trở thành kỳ thủ trẻ nhất được tham dự Giải Candidates - giải đấu chọn ra người thách đấu nhà đương kim vô địch thế giới.[30] Vào tháng 10, cậu dành vị trí thứ nhất tại Giải Tưởng niệm Arnold Eikrem ở Gausdall với 8/9 điểm và mức PR là 2792.[31]
2006
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen giành được một suất đấu chính thức tại Giải Corus B sau khi vô địch nhóm C. Cậu đồng hạng nhất với Alexander Motylev với 9/13 điểm (+6 -1 =6). Điều này giúp cậu có một suất đấu tại giải Corus A năm 2007.[32]
Carlsen đã gần như chiến thắng Giải Vô địch Cờ vua Na Uy, nhưng trận thua vòng cuối trước Berge Østenstad khiến cậu phải đồng hạng nhất với Agdestein. Điều đó khiến Carlsen không thể phá kỉ lục là Nhà Vô địch Cờ vua Na Uy trẻ nhất của chính Agdestein.[33] Tuy vậy, ở trận đấu play-off tổ chức từ ngày 19 đến 21 tháng 9, Carlsen giành chiến thắng 3-1. Sau 2 ván hòa cờ tiêu chuẩn, Carlsen thắng cả hai trận cờ nhanh và trở thành nhà vô địch cờ vua Na Uy.[34]
Carlsen vô địch Giải Cờ chớp Glitnir [35] ở Iceland. Cậu thắng Anand 2-0 ở bán kết và thắng cùng tỉ số ở trận chung kết.[36] Cậu đạt 6/8 điểm ở Olympiad Cờ vua thứ 37 và đạt mức PR là 2820.[37]
Ở Giải Cờ vua Midnight Sun, Carlsen về thứ hai sau Sergei Shipov.[38] Ở Giải Cờ vua Biel, câu về thứ hai, đánh bại nhà vô địch của giải đấu Alexander Morozevich 2 lần.[39]
Tại Giải Cờ vua NH tổ chức ở Amsterdam vào tháng 8, Carlsen tham dự một trận đấu đồng đội với khai cuộc là hệ thống Scheveningen giữa hai đội "Kỳ cựu" ("Experience") vs. "Ngôi sao đang lên" ("Rising Stars"). Đội "Ngôi sao đang lên" thắng 28-22, trong đó Carlsen đạt kết quả tốt nhất đội với 6½/10 điểm và 2700 PR, do đó giành quyền tham dự Giải Cờ vua Amber năm 2007.[40]
Với số điểm 7½/15, Carlsen đứng thứ 8/16 tại Giải Vô địch Cờ chớp Thế giới ở Rishon LeZion, Israel.[41] Tại Giải Cờ nhanh Rencontres nationales et internationales d'échecs ở Cap d'Agde, Pháp, cậu vào đến bán kết nhưng thất bại trước Sergey Karjakin.[42] Vào tháng 11, Carlsen đồng hạng 8/10 tại Giải Tưởng niệm Mikhail Tal ở Moskva với 2 trận thua và 7 hòa. Cậu về đích ở vị trí 9/18 ở giải cờ chớp sau đó (Anand vô địch).[43]
2007
[sửa | sửa mã nguồn]
Tham dự Giải Corus A lần đầu, Carlsen xếp cuối cùng với 9 hòa và 4 thua, dành 4½/13 điểm.[44] Tại giải đấu danh giá Linares, Carlsen được đấu với các kỳ thủ hàng đầu thế giới: Veselin Topalov, Viswanathan Anand, Peter Svidler, Alexander Morozevich, Levon Aronian, Peter Leko, và Vassily Ivanchuk. Mặc dù có hệ số elo thấp hơn hẳn, anh kết thúc giải đấu ở vị trí thứ hai với hệ số phụ 7½/14, đạt thành tích 4 thắng, 7 hòa và 3 thua, đạt mức 2778 PR.[45]
Carlsen lần đầu tham dự Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Melody Amber tại Monte Carlo vào tháng 3. Sau 11 vòng, anh đạt kết quả 8 hòa - 3 thua ở hạng mục thi đấu cờ tưởng và 3 thắng, 7 hòa, 1 thua ở nội dung cờ nhanh. Qua đó, anh xếp hạng 9 cờ tưởng và hạng 2 cờ nhanh (sau Anand), đạt hạng 8 chung cuộc.[46]
Từ tháng 5 đếntháng 6, anh tham dự Giải Candidates để chọn ra người thách đấu với đương kim vô địch FIDE Anand và gặp Levon Aronian trong một trận đấu cờ tiêu chuẩn 6 ván. Trận đấu kết thúc với kết quả hòa sau khi Carlsen bị dẫn trước 2 lần (+2 -2 =2). Trận đấu playoff cờ nhanh 4 ván cũng kết thúc với kết quả hòa (+1 -1 =2) (Carlsen thắng ván cuối). Tuy nhiên, Aronian đã loại Carlsen ra khỏi giải đấu sau khi thắng cả hai ván cờ chớp.[47]
Từ tháng 7 đến tháng 8, Carlsen vô địch Giải Cờ vua Biel với 6/10 điểm và 2753 PR. Anh đồng hạng nhất với Alexander Onischuk nên họ phải chơi một trận đấu để phân định nhà vô địch. Sau khi hòa cả hai ván cờ nhanh và 2 ván cờ chớp, Carlsen thắng trận Armageddon.[48] Ngay sau khi tham dự Giải Biel, Carlsen tham dự giải cờ mở Artic Chess Challenge tại Tromsø, nhưng vị trí thứ 4 với +5 =4 là một màn trình diễn dưới phong độ. Ở vòng 1, Carlsen phải bất ngờ chấp nhận một trận hòa trước bạn cùng lớp Brede Hagen (elo 2034)[49] ở thế thua.[50] Trận đấu gây sự chú ý của Carlsen là trận thắng vòng 6 trước chính cha của mình, Henrik Carlsen.[51]
Carlsen vào đến bán kết World Cup vào tháng 12 sau khi đánh bại Michael Adams ở vòng 16 người và Ivan Cheparinov ở tứ kết. Ở bán kết, anh bị loại bởi nhà vô địch giải đấu Gata Kamsky với tỉ số chung cuộc, ½–1½.[52]
2008
[sửa | sửa mã nguồn]
Tại Giải Corus A, Carlsen dành 8/13 điểm, đạt 2830 PR. Carlsen thắng 5 trận, thua 2 và hòa 6, đồng hạng nhất với Levon Aronian.[53] Tại Giải Cờ vua Linares, Carlsen tiếp tục có 2800+ PR, dành 8/14 điểm. Anh kết thúc giải ở vị trí thứ 2, ½ điểm sau đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand.[54]
Vào tháng 3, Carlsen lần thứ hai tham dự Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Melody Amber, được tổ chức lần đầu tiên tại Nice. Sau 11 vòng, anh đạt kết quả +4 -2 =4 ở nội dung cờ tưởng và +3 -2 =6 ở nội dung cờ nhanh. Kết thúc giải đấu, anh đứng ở vị trí thứ 5 cờ tưởng, thứ 3 cờ nhanh và đồng hạng 2 chung cuộc.[55]
Carlsen là một trong 21 kỳ thủ trong hệ thống 6 giải đấu FIDE Grand Prix 2008 – 2009. Tại giải đấu đầu tiên ở Baku, Azerbaijan, anh đồng hạng nhất với 2800 PR. Carlsen sau đó đã rút lui khỏi hệ thống giải Grand Prix mặc dù đã có những thành công ban đầu. Anh phê phán cách FIDE đã "thay đổi các điều lệ đột ngột ngay giữa giải vô địch thế giới".[56]
Carlsen thắng một trận cờ nhanh với Peter Leko tổ chức ở Miskolc, Hungary với tỉ số 5 – 3.[57] Vào tháng 6, Carlsen thắng giải đấu tổ chức hàng năm Aerosvit – loại 19,[58] kết thúc giải với thành tích bất bại 8/11 điểm với mức 2877 PR – mức PR tốt nhất của anh tính đến thời điểm đó.[59] Tham dự giải đấu loại 18 Biel, Carlsen về vị trí thứ 3 với 6/10 với mức PR 2740.[60]
Tại Giải Vô địch Cờ nhanh Thế giới tổ chức tại Mainz, Carlsen về vị trí thứ 2 sau khi thua đương kim vô địch Anand 3 – 1 ở trận chung kết.[61] Tại vòng bảng, Carlsen dành 1½–½ trước Judit Polgár, 1 – 1 trước Anand và 1 – 1 trước Alexander Morozevich.[62] Tại giải đấu loại 22 Bilbao Masters, Carlsen đồng hạng 2 với mức PR 2768.[63]
2009
[sửa | sửa mã nguồn]Tham dự nhóm A của Giải Corus, Carlsen đồng hạng 5 với mức 2739 PR.[64] Tại Giải cờ vua Linares, Carlsen đồng hạng 3 với mức 2777 PR.[65] Carlsen đồng hạng 2 với Veselin Topalov tại Giải M-Tel Masters (loại 21) ở Sofia, Bulgaria. Anh thua nhà vô địch của giải Alexei Shirov ở trận đấu cuối cùng và bị bật khỏi vị trí thứ nhất.[66]
Carlsen vô địch giải đấu loại 21 Pearl Spring, cao hơn người về nhì Topalov (kỳ thủ số 1 thế giới thời điểm đó) 2½ điểm. Anh bất bại với tỉ số 8/10, thắng mọi ván cầm trắng (trước Topalov, Vương Nguyệt, Leko, Radjabov và Jakovenko) và cũng thắng Jakovenko khi cầm đen. Anh đạt mức 3002 PR – cao nhất trong lịch sử cờ vua.[67] Nhà thống kê cờ vua Jeff Sonas tuyên bố rằng đây là một trong 20 mức PR cao nhất mọi thời đại và mức PR cao nhất bởi một kỳ thủ tuổi teen.[68]
Tại Giải Tưởng niệm Tal từ ngày 5 đến 14 tháng 11, Carlsen bắt đầu với 7 trận hòa liên tiếp nhưng kết thúc với 2 chiến thắng trước Ruslan Ponomariov và Peter Leko. Kết quả này giúp Carlsen đồng hạng 2 với Vassily Ivanchuk, sau Vladimir Kramnik.[69][70] Sau Giải Tưởng niệm Tal, Carlsen thắng Giải Vô địch Cờ chớp Thế giới, tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng 11 tại Moscow, Nga. Anh đạt kết quả 28 thắng, 6 hòa và 8 thua – hơn Anand, người về nhì 3 điểm.[71]

Carlsen dự Giải London Chess Classic với tư cách là hạt giống hàng đầu cùng với Kramnik, Hikaru Nakamura, Michael Adams, Nigel Short, Ni Hua, Luke McShane và David Howell. Anh đánh bại Kramnik ở vòng 1 và vô địch giải đấu với 13/21 điểm (một trận thắng được 3 điểm, hòa được 1 điểm, nếu tính theo hệ thống tính điểm bình thường thì anh đạt 5/7 điểm) và mức 2844 PR, nhiều hơn Kramnik 1 điểm. Chức vô địch này đã giúp anh vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng FIDE, vượt qua Veselin Topalov.[72]
Dựa trên mức elo trung bình của anh từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010, Carlsen đủ tiêu chuẩn dự Giải Candidates – giải đấu quyết định ra người thách đấu đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand vào năm 2012. Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 2010, Carlsen tuyên bố anh sẽ rút lui khỏi Giải Candidates. Carlsen cho rằng quá trình 2008 – 2012 là "không đủ hiện đại và công bằng" và viết rằng "Lợi thế của đương kim vô địch thế giới; chu kỳ 5 năm; những thay đổi trong quá trình đó (tạo nên một thể loại mới mà chưa có một nhà vô địch thế giới nào từng trải qua từ Kasparov); hệ thống xếp hạng gây bối rối cũng như những trận đấu tay đôi tẻ nhạt không ngớt khiến cho giải đấu này không còn hứng thú nữa."[73]
Khoảng đầu năm 2009, Carlsen luyện tập với cựu Vô địch Thế giới Garry Kasparov.[74] Vào tháng 9, sự hợp tác này của họ mới được công khai bởi một tờ báo Na Uy.[75][76] Trả lời một câu hỏi trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Time vào tháng 12 năm 2009 về việc có sử dụng máy tính khi luyện cờ không, Carlsen giải thích rằng anh không dùng bàn cờ khi đang tự nghiên cứu cờ.[77]
2010
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen vô địch Giải Corus diễn ra từ ngày 16 – 31 tháng 1 với 8½ điểm. Trận thua vòng 9 trước Kramnik đã chấm dứt chuỗi 36 trận bất bại.[78] Carlsen phải chiến đấu rất vất vả ở vòng cuối trước Fabio Caruana nhưng cuối cùng hòa được ván cờ, giúp anh nhiều hơn người đứng thứ hai Kramnik và Shirov nửa điểm.[79]
Vào tháng 3, Carlsen chính thức chia tay huấn luyện viên Kasparov,[80] tuy vậy, Carlsen lại trả lời phỏng vấn tờ tạp chí Đức "Der Spiegel" rằng họ vẫn giữ liên lạc và anh vẫn tiếp tục tham gia các kỳ luyện tập cùng Kasparov.[81] Vào năm 2011, Carlsen phát biểu: "Nhờ Kasparov, tôi đã bắt đầu hiểu được các loại thế trận tốt hơn.... Kasparov giúp tôi nhìn nhận rõ ràng hơn qua những sự trợ giúp thiết thực."[82] Vào năm 2012, khi được hỏi về những gì mà mình học được khi làm việc với Kasparov, Carlsen trả lời: "Thế trận phức tạp. Đó là điều quan trọng nhất."[83]
Carlsen đồng hạng nhất với Ivanchuk tại Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Amber. Dành 6½/11 điểm ở nội dung cờ tưởng và 8/11 điểm ở nội dung cờ nhanh, Carlsen dành tổng cộng 14½/22 điểm.[84] Vào tháng 5, việc Carlsen giúp Anand chuẩn bị cho trận Vô địch Cờ vua Thế giới 2010 trước kỳ thủ thách đấu Veselin Topalov (Anand thắng 6½–5½ để giữ ngôi vô địch) được tiết lộ. Carlsen cũng giúp Anand chuẩn bị cho trận Vô địch Cờ vua Thế giới 2007 và 2008.[85]
Carlsen tham dự Giải Bazna Kings ở Romania từ 14 – 25 tháng 6. Giải đấu tổ chức theo thể thức vòng tròn, bao gồm Vương Nguyệt, Boris Gelfand, cựu vô địch FIDE Ruslan Ponomariov, Teimour Radjabov và Liviu-Dieter Nisipeanu. Anh kết thúc giải với 7½/10 điểm và 2918 PR, vô địch giải với 2 điểm nhiều hơn người về nhì Radjabov và Gelfand.[86] Carlsen sau đó tham dự giải cờ nhanh từ ngày 28 đến 30 tháng 8 tại Giải Arctic Securities Chess Stars ở Kristiansund, Na Uy. Giải đấu bao gồm đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand, kỳ thủ nữ số 1 thế giới Judit Polgar và Jon Ludvig Hammer. Tại vòng bảng, Carlsen dành 3½/6 điểm để vào chơi trận chung kết, đứng thứ hai sau Anand.[87] Tại trận chung kết, Carlsen đánh bại Anand 1½–½ để vô địch.[88]
Tuy nhiên, Carlsen lại phải trải qua 2 thất bại ở 2 giải đấu kế tiếp. Tại Olympiad Cờ vua thứ 39 từ 19 tháng 9 đến 4 tháng 10, anh đạt 4½/8 điểm, thua 3 ván trước Baadur Jobava, Michael Adams và Sanan Sjugirov; bao gồm cả trận thua đầu tiên với quân đen trong hơn một năm qua.[89] Đội Na Uy của anh đứng thứ 51/149 đội.[90]
Giải đấu tiếp theo của Carlsen là Giải Cờ vua Bilbao từ ngày 9 đến 15 tháng 10 mà anh đủ tiêu chuẩn tham dự sau khi thắng 3/4 Grand Slam Cờ vua năm 2009 (2009 Nanjing Pearl Spring, 2010 Corus, 2010 Bazna Kings). Cùng tham dự với Carlsen là đương kim vô địch thế giới Anand và 2 người có điểm cao nhất từ vòng sơ khảo tổ chức ở Shanghai vào tháng 9: Kramnik và Shirov.[91][92] Elo trung bình của giải là 2789 khiến đây trở thành chung kết Grand Slam cờ vua mạnh nhất trong lịch sử. Tại vòng 1, Carlsen thua Kramnik khi cầm đen – trận thứ 2 liên tiếp thua trước Kramnik khiến ngôi vị số 1 thế giới bị lung lay dữ dội. Ở vòng 2, Carlsen tiếp tục thua khi cầm trắng trước Anand – trận thua khi cầm trắng đầu tiên kể từ tháng 1 năm 2010. Carlsen trở lại ở phần sau của giải với 1 thắng trước Shirov và kết thúc với 2½/6 điểm. Kramnik vô địch giải với 4/6.[93] Carlsen kết thúc giải với elo 2802, kém hơn elo 2804 của Anand và mất ngôi số 1 trên bảng xếp hạng của FIDE. Phong độ giảm sút này đã dấy lên những câu hỏi về những hoạt động của Carlsen ngoài cờ vua, như làm người mẫu cho G-Star Raw, khiến anh bị phân tâm khi thi đấu.[94] Tuy nhiên, Carlsen cho rằng điều đó thì không ảnh hưởng trực tiếp đến phong độ của anh.[95]
Giải đấu tiếp theo của Carlsen là Giải Cờ vua Pearl Spring từ ngày 19 đến 30 tháng 10 tại Nanjing, Trung Quốc. Cùng tham gia giải đấu này có Anand, Topalov, Vugar Gashimov, Yue và Étienne Bacrot.[96] Đây là giải đấu duy nhất vào năm 2010 quy tụ 3 kỳ thủ hàng đầu thế giới lúc bấy giờ: Anand, Carlsen và Topalov và cũng là giải đầu tiên trong lịch sử quy tụ 3 kỳ thủ có mức elo trên 2800. Với các trận thắng trước Bacrot, Yue và Topalov khi cầm trắng, Carlsen sớm vươn lên dẫn đầu, kéo dài mạch trận thắng của mình khi cầm trắng tại Nanjing lên con số 8 trận. Chuỗi trận này chỉ bị dừng lại bởi trận hòa trước Anand ở vòng 7. Tuy nhiên ở vòng áp chót, Carlsen đã củng cố vị trí đứng đầu của mình khi cầm đen đánh bại Topalov. Đây là trận thắng thứ hai của anh trong giải trước cựu số 1 thế giới. Carlsen kết thúc giải với 7/10 điểm (2903 PR) – 1 điểm nhiều hơn á quân Anand.[97]

Tại Giải vô địch Cờ chớp thế giới tổ chức tại Moscow từ ngày 16 đến 18 tháng 11, Carlsen tham dự với tư cách là đương kim vô địch và phải bảo vệ chức vô địch giành được vào năm 2009. Với số điểm 23½/38, anh đứng ở vị trí thứ 3 sau Rajabov và nhà vô địch Levon Aronian.[98] Sau giải đấu, Carlsen chơi một trận đấu riêng gồm 40 ván cờ chớp với Hikaru Nakamura,[99] giành chiến thắng với tỉ số 23½–16½.[100]
Carlsen vô địch Giải London Chess Classic diễn ra từ ngày 8 đến 15 tháng 12 với sự góp mặt của đương kim vô địch thế giới Anand, Vladimir Kramnik, Nakamura và các kỳ thủ người Anh Adams, Nigel Short, David Howell và Luke McShane. Carlsen có một khởi đầu khá vất vả, thua McShane và Anand ở vòng 1 và 3 nhưng thắng Adams và Nakamura khi cầm trắng ở vòng 2 và 4. Anh vươn lên dẫn đầu giải với chiến thắng trước Howell ở vòng 5 và trụ vững ở ngôi đầu sau trận hòa vất vả trước Kramnik ở vòng 6 trước khi đánh bại Short ở vòng cuối. Vì thể thức của giải đáu là 3 điểm cho 1 trận thắng, thành tích +4 -2 =1 của Carlsen giúp anh vượt lên trên Anand và McShane (+2 =5 -0).[101]
2011
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen tham dự Giải Cờ vua Tata Steel (Corus) nhóm A từ ngày 14 đến 30 tháng 1 tại Wijk aan Zee cùng với đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand, Levon Aronian, cựu vô địch thế giới Vladimir Kramnik, Alexander Grischuk, Hikaru Nakamura và cựu vô địch FIDE Ruslan Ponomariov và các kỳ thủ hàng đầu khác. Mặc dù thua 2 ván khi cầm trắng trước Anish Giri và đương kim vô địch Nga Ian Nepomniachtchi, Carlsen kết thúc giải với 8/13 điểm, bao gồm trận thắng trước Kramnik và nhà vô địch giải Nakamura.[102] Mặc dù màn trình diễn của Carlsen giúp anh tăng elo từ 2814 lên 2815 nhưng như vậy là chưa đủ để vượt qua Anand bởi số điểm 8½/13 của Anand giúp elo của Anand tăng lên 2817 – số 1 thế giới theo bảng xếp hạng FIDE tháng 3 năm 2011.[103]
Chức vô địch đầu tiên trong năm của Carlsen là ở Giải Bazna Kings (thể thức vòng tròn) tổ chức ở Medias từ 11 – 21 tháng 6. Carlsen kết thúc giải với 6½/10 điểm, bằng với Sergey Karjakin nhưng vô địch nhờ chỉ số phụ tốt hơn. Carlsen thắng Nakamura, Nispeanu và Ivanchuk khi cầm trắng, đồng thời hòa tất cả các trận còn lại.[104]
Vòng Chung kết Grand Slam Cờ vua được tổ chức theo thể thức vòng tròn 2 lượt với 6 kỳ thủ tại São Paulo (từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10) và Bilbao (từ ngày 5 đến 11 tháng 10). Mặc dù Carlsen có khởi đầu chậm, bao gồm trận thua trước kỳ thủ elo thấp nhất Vallejo Pons, anh kết thúc giải với +3 -1 =6, bằng điểm với Ivanchuk (+4 -3 =3) (3 điểm cho 1 trận thắng). Carlsen sau đó thắng trận cờ chớp tiebreak trước Ivanchuk. Các kỳ thủ khác là Anand, Aronian, Nakamura và Vallejo Pons.[105]
Một chức vô địch khác là ở Giải Tưởng niệm Tal tổ chức ở Moscow từ ngày 16 đến 25 tháng 11 với thể thức vòng tròn – 10 kỳ thủ. Carlsen thắng 2 ván trước Gelfand và Nakamura và hòa tất cả các ván còn lại. Mặc dù anh bằng điểm với Aronian, anh xếp trước bởi có chỉ số phụ tốt hơn (nhiều ván cầm đen hơn); Carlsen cầm đen 5 ván trong khi Aronian chỉ cầm đen 4 ván.[106]
Tại Giải London Chess Classic tổ chức từ ngày 3 đến 12 tháng 12, chuỗi giải vô địch của Carlsen đã phải dừng lại khi anh chỉ về thứ 3, sau Kramnik và Nakamura. Carlsen thắng 3 trận và hòa 5. Mặc dù không vô địch giải đấu nhưng Carlsen kiếm thêm được elo, vươn lên mức cao nhất trong sự nghiệp lúc bấy giờ là 2835.[107]
2012
[sửa | sửa mã nguồn]
Tại Giải Cờ vua Tata Steel tổ chức từ ngày 14 đến 29 tháng 1 tại Wijk aan Zee, Carlsen đồng hạng 2 với Radjabov và Caruana (8/13 điểm), sau Aronian. Carlsen đánh bại Gashimov, Aronian, Gelfand và Topalov nhưng thua trước Karjakin.[108] Ở nội dung cờ chớp tại Giải Tưởng niệm Tal, Moscow (7 tháng 6), Carlsen đồng hạng nhất với Morozevich. Ở nội dung cờ tiêu chuẩn (nội dung chính) tại giải đấu này (loại 22) với thể thức vòng tròn 10 người, anh thắng 2 ván và hòa 7. Anh đồng hạng nhất tại giải, cao hơn Radjabov và Caruana.[109]
Carlsen về thứ 2 tại Giải Biel với 18 điểm (3 điểm cho 1 trận thắng, hòa được 1 điểm), chỉ 1 điểm sau Wang Hao. Giống như Giải Tưởng niệm Tal trước đó, Carlsen kết thúc giải mà không thua trận nào (+4 -0 =6). Anh cũng đánh bại nhà vô địch Hao ở cả hai ván gặp Hao. Tại giải cờ chớp biểu diễn ở Biel trước giải đấu chính thức, Carlsen bị loại ngay vòng 1 (+1 -2 =0) bởi Étienne Bacrot. Bacrot cũng lấy đi của Carlsen một trận thắng tại giải đấu chính thức khi hòa Carlsen ở vòng cuối. Nếu tính theo hệ thống tính điểm cổ điển (1-½-0), anh đã vô địch giải với 7/10 điểm.[110]
Vòng Chung kết Grand Slam Cờ vua một lần nữa được tổ chức ở São Paulo và Bilbao theo thể thức vòng tròn 2 lượt với 6 kỳ thủ. Carlsen bắt đầu giải với 1 trận thua trước Caruana nhưng sau 3 trận thắng vòng 2 (tổ chức ở Bilbao), Carlsen kết thúc với +4 -1 =5, đồng hạng nhất với Caruana, cao hơn Aronian, Karjakin và Anand. Carlsen vô địch giải khi thắng cả hai trận tiebreak trước Caruana.[111]
Từ 24 – 25 tháng 11, Carlsen tham dự lễ hội cờ vua Segunda Gran Fiesta Internacional de Ajedrez tại Mexico. Carlsen tham dự một trận đấu online với các khán giả (đội "Thế giới") và thắng (cầm trắng). Sau đó anh tham dự giải đấu biểu diễn Cuadrangular UNAM theo thể thức đấu loại trực tiếp. Carlsen đánh bại Lázaro Bruzón 1½–½, qua đó lọt vào trận chung kết để gặp Judit Polgár, người đánh bại Manuel León Hoyos 1½–½. Carlsen thua trận đầu nhưng thắng trận thứ 2 và đánh bại Polgár 2-0 ở trận tiebreak.[112][113]
Carlsen vô địch Giải London Chess Classic vào tháng 12 với 5 trận thắng (trước McShane, Aronian, Gawain Jones, Adams và Judit Polgár) và 3 hòa (trước Kramnik, Nakamura và Anand).[114] Chức vô địch này là chức vô địch giải đấu lần thứ 3 trong vòng 4 năm của Carlsen, giúp elo của anh tăng từ 2848 lên 2861, phá kỉ lục 13 năm của Kasparov – 2851.[114][115] Nếu xét theo mức PR, đây là một trong những mức PR tốt nhất trong lịch sử cờ vua – PR 2994.[116]
2013
[sửa | sửa mã nguồn]
Carlsen tham dự Giải Cờ vua Tata Steel lần thứ 75 tổ chức từ ngày 11 đến 27 tháng 1 tại Wijk aan Zee. Anh vô địch giải 10/13 điểm (+7 -0 =6), hơn người về thứ hai Aronian 1½ điểm.[117] Vào 1 tháng 2, GM người Đan Mạch Peter Heine Nielse tham gia đội trợ tá giúp Carlsen chuẩn bị cho Giải Candidates vào tháng 3. Trước đó, Nielsen thuộc đội của Viswanathan Anand.[118]
Carlsen tham dự Giải Candidates 2013 diễn ra ở London từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4. Anh kết thúc giải với thành tích +5 -2 =7 và vô địch giải nhờ hơn Kramnik chỉ số phụ. Do đó, anh giành quyền thách đấu Anand cho chức vô địch thế giới.[119]
Vào tháng 5, Carlsen tham dự Giải Cờ vua Norway. Anh về thứ 2, đạt 5½/9 điểm (+3 -1 =5), nửa điểm sau Sergey Karjakin.[120]
Carlsen tham dự Giải Tưởng niệm Tal từ ngày 12 đến 23 tháng 6. Anh về thứ 2 với 5½/9 điểm, nửa điểm sau Boris Gelfand. Carlsen kết thúc giải với +3 -1 =5, thua Caruana nhưng đánh bại Anand, Kramnik và Nakamura.[121] Cũng trong tháng 6, Carlsen chơi một trận cờ nhanh 4 ván với Borki Predojević và thắng 2½–1½.[122]
Tại Cúp Sinquefield tổ chức vào tháng 9, Carlsen vô địch với +3 -0 =3, hơn người về nhì Nakamura 1 điểm.[123]
Giải vô địch cờ vua thế giới 2013
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen đối đầu với Anand trong Giải vô địch cờ vua thế giới 2013, tại Hyatt Regency ở Chennai , Ấn Độ, từ ngày 9 đến ngày 22 tháng 11. Carlsen thắng trận 6½ – 3½ bằng cách thắng các ván năm, sáu và chín và hòa phần còn lại, trở thành Nhà vô địch cờ vua thế giới mới. Mặc dù anh ta là người thách thức và ít kinh nghiệm hơn Anand, anh ta đã xử lý áp lực một cách dễ dàng. Anh ta rút máu đầu tiên trong ván 5 bằng cách tận dụng một sai lầm nhỏ của Anand, và giành chiến thắng trong ván 6 và 9, giúp anh trở thành Nhà vô địch Cờ vua Thế giới thứ 16 không thể tranh cãi
| Xếp hạng | Thứ hạng | Trận 1ngày 9 tháng 11. | Trận 2ngày 10 tháng 11. | Trận 3ngày 12 tháng 11. | Trận 4ngày 13 tháng 11. | Trận 5ngày 15 tháng 11. | Trận 6ngày 16 tháng 11. | Trò chơi 7ngày 18 tháng 11. | Trò chơi 8ngày 19 tháng 11. | Trò chơi 9ngày 21 tháng 11. | Trò chơi 10ngày 22 tháng 11. | Trò chơi 11ngày 24 tháng 11. | Trận đấu 12ngày 26 tháng 11. | Điểm | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Viswanathan Anand ( Ấn Độ ) | 2775 | số 8 | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | 0 | ½ | ½ | 0 | ½ | Không yêu cầu | 3½ | |
| Magnus Carlsen ( Na Uy ) | 2870 | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | 1 | ½ | ½ | 1 | ½ | 6½ | ||
2014
[sửa | sửa mã nguồn]Từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 4 tháng 2, Carlsen tham dự giải Zurich Chess Challenge, giành chiến thắng ở cả nội dung cờ chớp (+2−1=2) lẫn cờ tiêu chuẩn (+3−0=2). Dù thi đấu không tốt ở nội dung cờ nhanh (+1−2=2) — nội dung vốn được tính vào bảng xếp hạng tổng sắp —, anh vẫn duy trì đủ lợi thế điểm số để lên ngôi vô địch toàn giải. Các kỳ thủ khác góp mặt tại giải đấu này bao gồm Aronian, Nakamura, Caruana, Gelfand và Anand.[124] Vào ngày 22 tháng 3, Carlsen đại diện cho câu lạc bộ Stavanger thi đấu trận hạ màn thuộc vòng đồng đội nhằm tranh suất thăng hạng lên Giải Ngoại hạng Na Uy. Chiến thắng của anh trước Vladimir Georgiev đã góp công giúp đội nhà đánh bại Nordstrand với tỷ số 3½–2½.[125]
Carlsen tiếp tục vô địch Giải tưởng niệm Vugar Gashimov (Shamkir Chess) diễn ra tại Shamkir, Azerbaijan từ ngày 20 đến 30 tháng 4. Anh tranh tài ở bảng A cùng với Caruana, Nakamura, Karjakin, Shakhriyar Mamedyarov và Radjabov. Khởi đầu thuận lợi với 2/2 điểm sau khi đánh bại Mamedyarov và Nakamura, Carlsen sau đó hòa Karjakin rồi bất ngờ để thua hai ván liên tiếp lần đầu tiên sau bốn năm — lần lượt thất thủ trước Caruana khi dùng quân Đen và trước Radjabov khi dùng quân Trắng. Sang giai đoạn lượt về, Carlsen bứt phá ngoạn mục khi ghi được 4/5 điểm, tái lập chiến thắng trước Mamedyarov và Nakamura, đồng thời hạ gục Caruana ở vòng đấu cuối cùng để khép lại giải đấu với thành tích +5−2=3 và độc chiếm ngôi vương.[126]
Vào ngày 8 tháng 5, Carlsen tham gia một trận đấu biểu diễn tại trung tâm thương mại Oslo City để đối đầu với tập thể người hâm mộ Na Uy. Phía người hâm mộ nhận được sự hỗ trợ từ hội đồng đại kiện tướng gồm Simen Agdestein, Jon Ludvig Hammer và Leif Erlend Johannessen. Mỗi thành viên trong hội đồng sẽ đề xuất một nước đi để công chúng bỏ phiếu lựa chọn. Trong suốt trận đấu, mỗi đại kiện tướng được phép tối đa ba lần tham khảo nước đi từ phần mềm Houdini. Các nước cờ của đội tuyển Na Uy được thực hiện bởi Oddvar Brå — người đã mặc một bộ đồ spandex màu đỏ kín mít để khuấy động bầu không khí. Trận đấu khép lại với kết quả hòa sau khi Carlsen ép đối phương vào thế chiếu liên tục.[127]
Từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 6, Carlsen tham gia giải Norway Chess lần thứ hai — giải đấu vòng tròn một lượt quy tụ mười kỳ thủ. Anh giành vị trí á quân với 5½/9 điểm, kém nhà vô địch Karjakin đúng 0,5 điểm. Các tên tuổi khác cùng tranh tài tại sự kiện này gồm có Aronian, Caruana, Topalov, Svidler, Kramnik, Grischuk, Giri và Agdestein.[128]
Kế đó, Carlsen đã lên ngôi vô địch Giải vô địch cờ nhanh thế giới của FIDE được tổ chức tại Dubai từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 6.[129] Chỉ hai ngày sau, anh tiếp tục thâu tóm luôn chức vô địch Giải vô địch cờ chớp thế giới, qua đó trở thành kỳ thủ nam đầu tiên (và là kỳ thủ thứ hai trong lịch sử sau Susan Polgar) sở hữu cùng lúc danh hiệu quán quân thế giới ở cả ba thể thức kiểm soát thời gian được FIDE xếp hạng.[130][131]
Tại Olympiad Cờ vua lần thứ 41, Carlsen đánh 9 ván cho đội tuyển Na Uy, đạt thành tích 5 ván thắng, 2 ván hòa và để thua 2 ván trước Arkadij Naiditsch và Ivan Šarić.[132]
Từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 7 September, Carlsen cán đích ở vị trí thứ hai sau Fabiano Caruana tại giải Sinquefield Cup — giải đấu vòng tròn hai lượt gồm sáu kỳ thủ tham gia. Được giới chuyên môn đánh giá là giải đấu cờ vua mạnh nhất từng được tổ chức trong lịch sử, bốn tên tuổi còn lại góp mặt bao gồm Levon Aronian, Hikaru Nakamura, Veselin Topalov và Maxime Vachier-Lagrave. Ở vòng 3, Carlsen thất thủ trước Caruana, nhưng đã kịp phục hồi bằng các chiến thắng trước Aronian ở vòng 5 và Nakamura ở vòng 7. Kết thúc giải đấu, anh ghi được 5½/10 điểm (+2−1=7), kém Caruana 3 điểm.[133]

Giải vô địch cờ vua thế giới 2014
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen bước vào trận bảo vệ vương miện với Anand tại Giải vô địch cờ vua thế giới năm 2014. Trước đó, Anand đã xuất sắc giành suất thách đấu nhờ chiến thắng tại giải Thách đấu (Candidates Tournament). Trận tái đấu lịch sử này diễn ra từ ngày 7 đến ngày 23 tháng 11 tại Sochi, Nga. Sau 11 ván đấu (trên tổng số 12 ván theo kế hoạch), Carlsen dẫn trước với tỷ số 6½–4½, qua đó bảo vệ thành công ngôi vị vua cờ thế giới của mình.[134]
| Hệ số | Hạng | Ván 1 8 thg 11 | Ván 2 9 thg 11 | Ván 3 11 thg 11 | Ván 4 12 thg 11 | Ván 5 14 thg 11 | Ván 6 15 thg 11 | Ván 7 17 thg 11 | Ván 8 18 thg 11 | Ván 9 20 thg 11 | Ván 10 21 thg 11 | Ván 11 23 thg 11 | Ván 12 25 thg 11 | Điểm | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2863 | 1 | ½ | 1 | 0 | ½ | ½ | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | Không cần thiết |
6½ | |
| 2792 | 6 | ½ | 0 | 1 | ½ | ½ | 0 | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | 4½ |
2015
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 1, Carlsen vô địch Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 77, giải đấu diễn ra chủ yếu tại Wijk aan Zee từ ngày 9 đến ngày 25 tháng 1. Carlsen khởi đầu khá chật vật khi hòa hai ván đầu và để thua Radosław Wojtaszek ở vòng 3, khiến anh bị đẩy xuống vị trí thứ 10 trong tổng số 14 kỳ thủ. Tuy nhiên, chuỗi 6 trận thắng liên tiếp sau đó đã đưa Carlsen bứt phá lên dẫn đầu bảng xếp hạng. Việc hòa cả 4 ván cuối cùng là đủ để anh lên ngôi vô địch với 9 điểm sau 13 vòng đấu, bỏ xa nhóm bám đuổi gồm Anish Giri, Maxime Vachier-Lagrave, Wesley So và Đinh Lập Nhân với khoảng cách 0,5 điểm.[135][136]
Sang tháng 2, Carlsen tiếp tục giành chức vô địch tại giải Grenke Chess Classic lần thứ 3 sau khi đánh bại Arkadij Naiditsch trong loạt trận tie-break kéo dài 5 ván. Trước đó, anh đã kết thúc giai đoạn cờ tiêu chuẩn ở vị trí đồng hạng nhất với Naiditsch khi giành được 4½/7 điểm; trong đó anh vượt qua Michael Adams, Anand, David Baramidze nhưng lại để thua chính Naiditsch ở loạt đấu chính thức.[137] Chiến thắng này giúp Carlsen mở màn năm 2015 một cách hoàn hảo với danh hiệu quán quân ở cả hai giải đấu đầu tiên góp mặt. Chuỗi phong độ thăng hoa nối dài sang tháng 4 khi anh vô địch giải Shamkir Chess với số điểm thuyết phục 7/9 (+5−0=4), lần lượt hạ gục Mamedyarov, Caruana, Vachier-Lagrave, Kramnik và Rauf Mamedov. Đạt hiệu suất thi đấu (TPR) lên tới 2983, đây là thành tích tốt thứ ba trong sự nghiệp của Carlsen tại một giải đấu, chỉ xếp sau giải Nam Kinh 2009 (TPR 3002) và London 2012 (TPR 2994).[138]
Ngược lại, Carlsen lại có một màn trình diễn đáng thất vọng tại giải Norway Chess lần thứ ba diễn ra từ ngày 15 đến 26 tháng 6. Ngay vòng mở màn, anh đã giành được ưu thế áp đảo trước Topalov sau một giai đoạn tàn cuộc kéo dài, nhưng lại bất ngờ để thua do hết thời gian vì lầm tưởng rằng mình sẽ được cộng thêm 15 phút sau nước đi thứ 60.[139] Hệ quả là tâm lý bị ảnh hưởng, anh lép vế hoàn toàn trước Caruana ở vòng 2, bỏ lỡ cơ hội thắng Anish Giri ở vòng 3 và tiếp tục bại trận trước Anand ở vòng 4. Dù gỡ gạc lại bằng chiến thắng trước Grischuk ở vòng 5, hòa Nakamura và Vachier-Lagrave ở vòng 6 và 7, rồi hạ Aronian ở vòng 8, anh lại để thua Jon Ludvig Hammer ở vòng hạ màn. Kết quả này đẩy anh xuống vị trí thứ 7 chung cuộc với hiệu suất thi đấu nghèo nàn là 2693.[140] Carlsen bộc bạch về kết quả này: "Thật sự vô cùng nản lòng khi không thể thể hiện được bất cứ điều gì gần với phong độ thực sự của mình ngay trên mảnh đất quê hương."[141]
Từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9, Carlsen tranh tài tại Sinquefield Cup 2015. Anh cán đích ở vị trí á quân với thành tích 5/9 (+3−2=4), kém nhà vô địch Levon Aronian 1 điểm. Tại giải này, anh đã phục thù thành công nhà vô địch Sinquefield năm trước là Fabiano Caruana, đồng thời đánh bại Maxime Vachier-Lagrave và kỳ thủ nhận suất đặc cách Wesley So, nhưng lại để sẩy chân trước Veselin Topalov và Alexander Grischuk.[142]
Đến tháng 10, Carlsen bảo vệ thành công ngôi vương tại Giải vô địch cờ nhanh thế giới của FIDE tổ chức ở Berlin với thành tích +8−0=7, trở thành kỳ thủ đầu tiên trong lịch sử bảo vệ được danh hiệu vô địch cờ nhanh thế giới.[143] Sau giải đấu, anh đã chạm tới cột mốc hệ số Elo cờ nhanh cao nhất lịch sử ở bảng xếp hạng trực tiếp (live rating), đồng thời thiết lập thế thống trị tối cao khi đứng số 1 thế giới ở cả ba thể thức cờ cùng một lúc.[144] Dù vậy, Carlsen đã đánh mất vị trí số 1 cờ chớp ngay sau đó do có một ngày thi đấu thứ hai sa sút tại Giải vô địch cờ chớp thế giới. Hệ quả là anh không thể bảo vệ thành công ngôi vương cờ chớp và đành ngậm ngùi nhường danh hiệu này cho Alexander Grischuk.[145]
Vào tháng 11, Carlsen đại diện cho đội tuyển Na Uy tham dự Giải vô địch cờ vua đồng đội châu Âu. Anh có màn khởi đầu nghèo nàn khi chỉ giành được 0,5 điểm sau 3 ván đầu tiên — để thua Levon Aronian, hòa Sune Berg Hansen và tiếp tục bại trận trước Yannick Pelletier do một nước sơ hở tai hại. Dù vậy, anh đã bứt phá mạnh mẽ ở giai đoạn cuối giải bằng các chiến thắng trước Lékó Péter và Radosław Wojtaszek (người từng hạ gục anh hồi đầu năm). Tuy nhiên, nỗ lực muộn màng này là không đủ để giúp đội tuyển Na Uy có huy chương, và cá nhân Carlsen cũng bị trừ mất 16 điểm hệ số Elo sau giải đấu.[146]
Từ ngày 4 đến ngày 13 tháng 12, Carlsen tranh tài tại London Chess Classic — giải hạ màn của hệ thống giải đấu Grand Chess Tour. Anh đạt thành tích 5½/9 điểm (+2−0=7), hạ gục Grischuk và Nakamura (đây là trận thua cờ tiêu chuẩn thứ 12 của Nakamura trước Carlsen), qua đó giành vị trí đồng hạng nhất với Anish Giri và Maxime Vachier-Lagrave. Với tư cách là hạt giống số một trong loạt trận tie-break tay ba, Carlsen được đặc cách vào thẳng trận chung kết để chờ đợi người thắng trong cặp đấu giữa Giri và Vachier-Lagrave. Cuối cùng, Carlsen đã lên ngôi vô địch giải đấu sau khi đánh bại Vachier-Lagrave, đồng thời thâu tóm luôn danh hiệu quán quân tổng sắp của Grand Chess Tour năm đó.[147] Ngay sau đó, từ ngày 20 đến ngày 29 tháng 12, Carlsen tiếp tục góp mặt tại giải Qatar Masters Open lần thứ hai. Anh kết thúc các ván đấu chính thức ở vị trí đồng hạng nhất với 7/9 điểm (+5−0=4), trước khi đánh bại Dư Ương Y trong loạt play-off để giành cúp vô địch.[148]
2016
[sửa | sửa mã nguồn]Từ ngày 15 đến ngày 31 tháng 1, Carlsen tham dự Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 78 tổ chức tại Wijk aan Zee. Anh lên ngôi vô địch với thành tích 9 điểm sau 13 vòng đấu (+5−0=8), qua đó bỏ túi danh hiệu Wijk aan Zee lần thứ 5 trong sự nghiệp.[149]
Từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 4, Carlsen tranh tài tại giải Norway Chess lần thứ tư. Anh giành vị trí quán quân với 6/9 điểm (+4−1=4), xếp trên Levon Aronian với khoảng cách 0,5 điểm, đồng thời bỏ xa nhóm bám đuổi gồm Vladimir Kramnik, Veselin Topalov và Maxime Vachier-Lagrave 1 điểm. Đây là chức vô địch Norway Chess đầu tiên của Carlsen.[150]
Từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 6, Carlsen thi đấu tại chặng Leuven thuộc hệ thống Grand Chess Tour. Anh độc chiếm vị trí dẫn đầu ở cả hai nội dung: cờ nhanh với 12/18 điểm (+5−2=2; tính 2 điểm cho một ván thắng) và cờ chớp với 11/18 điểm (+7−3=8). Kết quả này giúp anh giành ngôi quán quân tổng sắp với số điểm áp đảo 23/36, bỏ xa người về nhì là Wesley So tới 2,5 điểm.[151][152]
Đến tháng 7, Carlsen vô địch giải Bilbao Masters Final lần thứ 9 khi giành được 17 điểm sau 10 ván đấu (+4−1=5; tính 3 điểm cho một ván thắng và 1 điểm cho một ván hòa). Trận thua duy nhất của anh là trước Hikaru Nakamura — kỳ thủ chưa từng đánh bại Carlsen ở thể thức cờ tiêu chuẩn trước đó. Cũng tại giải đấu này, Carlsen đã ghi nhận chiến thắng đầu tiên trước Anish Giri ở một ván đấu tiêu chuẩn.[153]

Tại Olympiad Cờ vua lần thứ 42, Carlsen đánh mười ván cho đội tuyển Na Uy với thành tích 5 ván thắng và 5 ván hòa, góp công giúp đoàn Na Uy cán đích ở vị trí thứ 5 chung cuộc trong tổng số 180 quốc gia tham tranh tài ở bảng Mở rộng.[154]
Carlsen cũng góp mặt tại giải đấu Grandmaster Blitz Battle Championship do Chess.com tổ chức. Tại đây, Magnus đè bẹp Tigran L. Petrosian với tỷ số áp đảo 21–4 ở vòng đầu tiên, và hạ gục Alexander Grischuk 16–8 tại vòng bán kết. Đến ngày 27 tháng 10, anh bước vào trận chung kết nghẹt thở đối đầu với Nakamura. Trải qua 3 giờ thi đấu căng thẳng ở cả hai thể thức cờ chớp (blitz) và cờ siêu chớp (bullet), Carlsen đã đánh bại Nakamura với tỷ số 14½–10½ để trở thành nhà vô địch đầu tiên của giải đấu.[155]
Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 12, Carlsen tham dự Giải vô địch cờ nhanh và cờ chớp thế giới diễn ra tại Doha, Qatar. Anh ghi được 11/15 điểm ở nội dung cờ nhanh, xếp vị trí thứ ba chung cuộc sau Ivanchuk và Grischuk.[156] Ở nội dung cờ chớp, anh đạt thành tích 16½/21 điểm, ngậm ngùi nhận vị trí á quân do kém chỉ số phụ so với Karjakin, dù đã bỏ xa nhóm kỳ thủ còn lại với khoảng cách lên tới 2 điểm.[157]
Giải vô địch cờ vua thế giới 2016
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen đối đầu với Sergey Karjakin tại Giải vô địch cờ vua thế giới 2016 diễn ra ở thành phố New York. Loạt trận cờ tiêu chuẩn gồm 12 ván, được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 11, đã khép lại với tỷ số hòa chung cuộc 6–6. Giai đoạn đầu trận chứng kiến chuỗi 7 ván hòa liên tiếp. Karjakin là người tạo nên đột biến trước khi giành chiến thắng ở ván 8, nhưng Carlsen đã kịp thời quân bình tỷ số ở ván 10. Hai ván đấu cuối cùng (ván 11 và 12) đều kết thúc với kết quả hòa. Loạt trận tie-break quyết định được tổ chức vào ngày 30 tháng 11, đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 26 của Carlsen. Sau khi hòa hai ván đầu tiên, Carlsen đã xuất sắc giành chiến thắng ở ván 3 và ván 4 để thắng với tỷ số 3–1, qua đó bảo vệ thành công ngôi vua cờ thế giới. Trong ván cờ nhanh quyết định thứ tư, Carlsen đã kết liễu trận đấu bằng một nước đi thí Hậu đầy táo bạo: 50.Qh6+, ép đối phương vào thế bị chiếu sát sau hai nước. Đại kiện tướng Lubomir Kavalek đã ca ngợi đây là "nước đi kết thúc trận đấu xuất sắc nhất trong lịch sử các giải vô địch cờ vua thế giới."[158]
| Hệ số | Hạng | Các ván đấu chính thức (Cờ tiêu chuẩn) | Các ván đấu phụ (Cờ nhanh) | Điểm | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | ||||
| 2772 | 9 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | ½ | 0 | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | 0 | 6 (1) | |
| 2853 | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | ½ | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | 1 | 6 (3) | |
2017
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào tháng 1, Carlsen góp mặt tại Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 79. Anh khởi đầu thuận lợi với 2 ván thắng và 4 ván hòa trong 6 vòng đầu tiên. Tuy nhiên, ở vòng 7, anh lại bỏ lỡ một thế chiếu sát sau 3 nước trước Giri — tình huống mà sau đó Giri đã mô tả là "khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất" trong sự nghiệp của vua cờ người Na Uy.[159] Hệ quả là sang vòng 8, Carlsen để thua Richárd Rapport và chung cuộc cán đích ở vị trí á quân với thành tích 8/13 điểm (+4−1=8), kém nhà vô địch Wesley So 1 điểm.[160]
Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 4, Carlsen tranh tài tại giải Grenke Chess Classic lần thứ 4. Anh kết thúc giải ở vị trí đồng hạng nhì (xếp hạng ba sau khi xét chỉ số phụ) cùng Fabiano Caruana với số điểm 4/7 (+1−0=6). Nhà vô địch tuyệt đối của giải đấu là Levon Aronian với 5½ điểm (+4−0=3). Kết quả nghèo nàn này khiến hệ số Elo FIDE của Carlsen bị tụt xuống còn 2832, mức thấp nhất của anh kể từ tháng 11 năm 2011 (2826).[161]
Giai đoạn từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 6, Carlsen tiếp tục trải qua một kỳ Norway Chess lần thứ năm đầy thất vọng. Anh thi đấu dưới sức và chỉ đạt hiệu suất (TPR) là 2755, mức thấp nhất kể từ giải Vô địch Đồng đội Châu Âu năm 2015 (2670). Cuối cùng, anh ngậm ngùi đứng thứ 9 tại giải đấu vòng tròn một lượt này với vỏn vẹn 4/9 điểm (+1−2=6) — để thua Aronian và Kramnik, chỉ gỡ gạc được một ván thắng trước Karjakin. Levon Aronian lên ngôi vô địch với thành tích 6/9 điểm (+3−0=6).[162]
Hạ tuần tháng 6, Carlsen lấy lại phong độ khi tham dự chặng Paris thuộc hệ thống Grand Chess Tour 2017 (diễn ra từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 6). Anh dẫn đầu nội dung cờ nhanh với 14/18 điểm (+5−0=4; tính 2 điểm cho một ván thắng) và đứng thứ năm ở nội dung cờ chớp với 10/18 điểm (+8−6=4), qua đó xếp đồng hạng nhất tổng sắp với Vachier-Lagrave. Trong loạt trận tie-break quyết định, Carlsen đã đánh bại Vachier-Lagrave để giành chức vô địch.[163]
Ngay sau đó, từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7, anh bước vào chặng Leuven của Grand Chess Tour. Tại đây, Carlsen đã thể hiện sức mạnh hủy diệt khi độc chiếm ngôi vương một cách thuyết phục: ghi được 11/18 điểm (+3−1=5; tính 2 điểm cho một ván thắng) ở phần cờ nhanh và càn quét phần cờ chớp với số điểm không tưởng 14½/18 (+12−1=5). Chung cuộc, anh đạt tổng điểm 25½/36, bỏ xa người về nhì là Wesley So tới 3 điểm.[164] Hiệu suất thi đấu của anh ở nội dung cờ chớp đạt mức Elo 3018, một con số mà cựu vua cờ Garry Kasparov phải thốt lên là "phi thường".[165][166][167] Ký giả Leonard Barden của tờ The Guardian nhận định rằng màn trình diễn siêu đẳng này chỉ có thể sánh ngang với kỷ lục 19/22 điểm của Bobby Fischer tại giải cờ chớp Herceg Novi năm 1970.[166]
Từ ngày 2 đến ngày 11 tháng 8, Carlsen tranh tài tại Sinquefield Cup. Anh kết thúc giải ở vị trí đồng hạng nhì với Anand khi ghi được 5½/9 điểm (+3−1=5). Trong giải này, anh bỏ túi ba ván thắng (trước Karjakin, So và Aronian) và chỉ để thua một ván duy nhất trước Vachier-Lagrave — người giành chức vô địch với 6/9 điểm (+3−0=6).[168] Kết quả này giúp Carlsen củng cố ngôi đầu bảng xếp hạng tổng sắp của Grand Chess Tour với 34 điểm, nới rộng khoảng cách với vị trí thứ hai của Vachier-Lagrave lên thành 3 điểm.[169]
Vào tháng 9, anh góp mặt tại Cúp cờ vua thế giới 2017. Việc anh tham gia sự kiện này với tư cách đương kim vô địch thế giới được xem là một quyết định khá hy hữu, bởi Cúp cờ vua thế giới vốn là một phần của chuỗi giải đấu nhằm tìm ra người giành quyền thách đấu nhà vua cờ vào năm 2018.[170] Ở vòng đầu tiên, anh dễ dàng hạ gục Oluwafemi Balogun với tỷ số +2−0=0 để tiến vào vòng hai, nơi anh tiếp tục vượt qua Aleksey Dreev với tỷ số tương tự. Tuy nhiên, hành trình của Carlsen đã phải dừng lại ở vòng ba sau khi anh để thua kỳ thủ Bốc Tường Chí với tỷ số +0−1=1 và chính thức bị loại khỏi giải đấu.[171]
Đến ngày 1 tháng 10, Carlsen giành chức vô địch giải Isle of Man Open (diễn ra từ ngày 23 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10). Anh ghi được 7½/9 điểm (+6−0=3), xếp trên Nakamura và Anand với khoảng cách 0,5 điểm, đạt hiệu suất thi đấu ấn tượng là 2903. Đây là danh hiệu cờ tiêu chuẩn đầu tiên của Carlsen sau cơn khát danh hiệu kéo dài suốt 435 ngày.[172][173]
Từ ngày 9 đến ngày 14 tháng 11, Carlsen có cuộc chạm trán với Đinh Lập Nhân tại giải Champions Showdown 2017 do Câu lạc bộ Cờ vua Saint Louis đăng cai tổ chức. Thể thức thi đấu bao gồm 10 ván cờ nhanh và 20 ván cờ chớp.[174] Carlsen đã giành chiến thắng chung cuộc áp đảo với tỷ số đậm đà 22–8 (+16−2=12).[175]
Từ ngày 1 đến ngày 11 tháng 12, Carlsen tranh tài tại giải London Chess Classic 2017 — trạm cuối khép lại chuỗi giải Grand Chess Tour 2017. Anh cán đích ở vị trí thứ năm với 5/9 điểm (+2−1=6). Caruana chia sẻ ngôi đầu với Nepomniachtchi khi cùng đạt 6/9 điểm (+3−0=6) và đã lên ngôi vô địch sau khi đánh bại Nepomniachtchi với tỷ số 2½–1½ trong loạt tie-break cờ chớp. Dẫu vậy, thứ hạng thứ năm vẫn mang về cho Carlsen thêm 7 điểm tích lũy trên bảng tổng sắp, vừa đủ để giúp anh chính thức lên ngôi quán quân toàn hệ thống Grand Chess Tour 2017.[176]
Vào cuối tháng 12 (từ ngày 26 đến ngày 30), Carlsen tham gia Giải vô địch cờ nhanh và cờ chớp thế giới 2017 được tổ chức tại Riyadh, Ả Rập Xê Út. Ở nội dung cờ nhanh, anh đứng ở vị trí thứ năm với thành tích 10/15 điểm (+8−3=4). Anand đồng hạng nhất với Vladimir Fedoseev ở mức 10½/15 điểm và đã đoạt vương miện sau khi vượt qua đối thủ ở trận tie-break.[177][178] Sang nội dung cờ chớp, Carlsen đã phô diễn sức mạnh vượt trội để giành chức vô địch với 16/21 điểm (+13−2=6), bỏ xa hai đối thủ bám đuổi gần nhất là Karjakin và Anand tới 1,5 điểm. Đây là danh hiệu Vô địch Cờ chớp Thế giới lần thứ ba trong sự nghiệp của anh.[179]
Cũng trong giai đoạn này, Carlsen đã thiết lập các kỷ lục vô tiền khoáng hậu về hệ số Elo FIDE cao nhất lịch sử ở cả hai thể thức cờ nhanh (2919) và cờ chớp (2986).[180]
2018
[sửa | sửa mã nguồn]
Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018, Carlsen tham gia mùa thứ hai của giải đấu Speed Chess Championship do Chess.com tổ chức.[181] Anh lần lượt đánh bại Gadir Guseinov, So và Grischuk ở ba vòng đầu tiên với các tỷ số lần lượt là 20½–5½, 27½–9½ và 15½–10½. Vào ngày 3 tháng 1, anh vượt qua Nakamura với tỷ số 18–9 trong trận chung kết để bảo vệ thành công chức vô địch giải đấu.[182]
Từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1, Carlsen tranh tài tại Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 80. Anh giành vị trí đồng hạng nhất với Giri sau khi đạt thành tích 9/13 điểm (+5−0=8).[183] Trong loạt trận tie-break cờ chớp sau đó, Carlsen hạ gục Giri với tỷ số 1½–½ để độc chiếm ngôi vương, qua đó thiết lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu với lần thứ sáu đăng quang tại giải đấu này.[183] Sang tháng 2, Carlsen tiếp tục bỏ túi chức vô địch giải cờ vua Fischer Random sau khi đánh bại Nakamura với tỷ số 14–10.[184][185]
Tại giải Grenke Chess Classic lần thứ 5 diễn ra từ ngày 31 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4, Carlsen về nhì với số điểm 5½/9 (+2−0=7), xếp sau Caruana — người độc chiếm ngôi đầu với 6½/9 điểm (+4−0=5).[186] Không lâu sau, từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 4, anh phục thù bằng chức vô địch giải Shamkir Chess lần thứ năm khi độc chiếm vị trí dẫn đầu với thành tích 6/9 điểm (+3−0=6).[187] Đến giai đoạn từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 7 tháng 6, anh tranh tài tại giải Norway Chess lần thứ sáu và giành vị trí á quân với 4½/8 điểm (+2−1=5), kém nhà vô địch Caruana nửa điểm. Tại giải này, anh vượt qua Caruana ở vòng 1 và Aronian ở vòng 3, nhưng lại để thua Wesley So ở vòng 6.[188]
Hạ tuần tháng 7, Carlsen tham dự giải cờ vua Đại kiện tướng Biel lần thứ 51 (diễn ra đến ngày 1 tháng 8). Anh giành vị trí á quân với số điểm 6/10 (+3−1=6), kém nhà vô địch Mamedyarov 1,5 điểm.[189] Sang tháng 8, anh góp mặt tại giải Sinquefield Cup lần thứ 6. Anh chia sẻ ngôi vị dẫn đầu cùng Caruana và Aronian khi cả ba kỳ thủ cùng đạt thành tích 5½/9 (+2−0=7). Sau đó, cả ba quyết định đồng sở hữu danh hiệu mà không tiến hành đánh loạt trận cờ phụ.[190] Đến tháng 10, Carlsen đại diện cho câu lạc bộ Vålerenga tham dự Cúp các câu lạc bộ cờ vua châu Âu lần thứ 34. Anh ghi được 3½/6 điểm (+1−0=5), còn đội tuyển của anh cán đích ở vị trí thứ năm chung cuộc.[191]
Từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 12, Carlsen tranh tài tại Giải vô địch cờ nhanh và cờ chớp thế giới 2018 được tổ chức tại Sankt-Peterburg, Nga. Ở nội dung cờ nhanh, anh khởi đầu thảm họa khi để thua tới ba ván trong tổng số tám vòng đầu tiên — bao gồm cả thất bại ở cả hai ván mở màn — trước những đối thủ có hệ số Elo thấp hơn rất nhiều. Dù đã nỗ lực bứt phá ngoạn mục ở giai đoạn sau, anh vẫn lỡ hẹn với tấm huy chương và ngậm ngùi xếp thứ năm với số điểm 10½/15 (+9−3=3).[192] Ngược lại, ở nội dung cờ chớp, anh đã bảo vệ thành công ngôi vương với thành tích bất bại vô cùng thuyết phục, độc chiếm vị trí quán quân với 17/21 điểm (+13−0=8).[193]
Giải vô địch cờ vua thế giới 2018
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen đối đầu với Fabiano Caruana tại Giải vô địch cờ vua thế giới 2018 diễn ra ở London. Loạt trận gồm 12 ván đấu do FIDE tổ chức này được tiến hành từ ngày 9 đến ngày 28 tháng 11. Toàn bộ 12 ván đấu ở thể thức cờ tiêu chuẩn đều khép lại với kết quả hòa. Carlsen sau đó đã bảo vệ thành công ngôi vương của mình bằng chiến thắng tuyệt đối 3–0 trước Caruana trong loạt trận tie-break cờ nhanh. Thừa nhận tầm quan trọng của trận đấu phụ đầu tiên, Carlsen gọi ván thắng này là "bước ngoặt" và chia sẻ rằng anh cảm thấy "vô cùng bình tĩnh" sau khi vượt qua đối thủ.[194]
| Hệ số | Hạng | Các ván đấu chính thức (Cờ tiêu chuẩn) | Các ván đấu phụ (Cờ nhanh) | Điểm | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | ||||
| 2835 | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | 1 | 1 | 6 (3) | |
| 2832 | 2 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | 0 | 0 | 6 (0) | |
2019
[sửa | sửa mã nguồn]Từ ngày 12 đến ngày 27 tháng 1, Carlsen tham gia tranh tài tại Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 81. Với số điểm 9/13 (+5−0=8),[195] nhiều hơn Giri nửa điểm, anh đã vô địch giải đấu này lần thứ bảy, qua đó tiếp tục tự xô đổ kỷ lục giành nhiều chức vô địch nhất của chính mình.[195]
Carlsen tham dự lần tổ chức thứ sáu của giải Shamkir Chess, diễn ra từ ngày 31 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4. Anh độc chiếm ngôi đầu bảng với 7/9 điểm (+5−0=4), bỏ xa á quân Đinh Lập Nhân tới hai điểm. Carlsen đạt hiệu suất thi đấu lên tới 2988; nhà báo Leonard Barden, cây bút của tờ The Guardian, đã mô tả đây là màn trình diễn áp đảo nhất tại một giải đấu kể từ sau chiến thắng của Fabiano Caruana tại Sinquefield Cup 2014.[196] Tại lễ bế mạc, Carlsen chia sẻ rằng đây là "một trong những giải đấu tuyệt vời nhất mà tôi từng chơi, xét về cả phong độ thi đấu lẫn chất lượng của các ván cờ."[197][198] Cuối tháng 4, Carlsen tiếp tục đăng quang tại Grenke Chess Classic lần thứ 6. Anh giành vị trí thứ nhất tuyệt đối với 7½/9 điểm (+6−0=3) và nâng hệ số Elo của mình lên mức 2875.[199][200]
Đầu tháng 5, Carlsen giành chiến thắng tại giải Cờ nhanh & Cờ chớp Côte d'Ivoire, giải đầu tiên của hệ thống Grand Chess Tour 2019, với số điểm 26½/36.[201] Cuối tháng 5, Carlsen có được chức vô địch tại giải đấu thứ sáu liên tiếp khi đăng quang tại Giải cờ vua các ngôi sao Lindores Abbey. Đây là giải đấu cờ nhanh gồm bốn kỳ thủ thi đấu theo thể thức vòng tròn hai lượt. Ngoài Carlsen, giải còn có sự góp mặt của Anand, Đinh Lập Nhân và Karjakin. Số điểm của Carlsen là 3½/6 (+1−0=5).[202]
Vào tháng 6, anh vô địch giải Norway Chess. Với 13½/18 điểm, anh cán đích với khoảng cách ba điểm so với các đối thủ bám đuổi gần nhất.[203] Từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 7 tháng 7, Carlsen tham gia giải đấu thứ hai của Grand Chess Tour 2019 được tổ chức tại Zagreb. Anh độc chiếm vị trí dẫn đầu với 8/11 điểm (+5−0=6) và cải thiện hệ số của mình lên 2882, san bằng mức đỉnh cao mà anh từng thiết lập vào năm 2014.[204]
Từ ngày 10 đến 14 tháng 8, Carlsen tham gia giải thứ tư của Grand Chess Tour 2019, đó là giải Cờ nhanh & Cờ chớp St. Louis. Anh đã có một màn trình diễn kém cỏi khi chỉ giành được 8/18 điểm ở nội dung cờ nhanh (+3−4=2, số điểm được nhân đôi) và 9/18 điểm ở nội dung cờ chớp (+6−6=6), tổng cộng đạt 17/36 điểm và đứng ở vị trí thứ sáu chung cuộc.[205] Giải thứ năm của Grand Chess Tour, giải Sinquefield Cup lần thứ 7, là một giải đấu cờ tiêu chuẩn. Carlsen đã giành chiến thắng trong hai ván cuối cùng để vươn lên đồng hạng nhất với Đinh Lập Nhân với 6½/11 điểm (+2−0=9), nhưng sau đó để thua 1–3 trong loạt tiebreak khi hòa cả hai ván cờ nhanh và thua liên tiếp hai ván cờ chớp.[206]
Tại Giải FIDE Grand Swiss 2019 được tổ chức vào tháng 10 trên Đảo Man, Carlsen xếp thứ sáu với 7½/11 điểm (+4−0=7). Với kết quả này, anh đã kéo dài chuỗi trận bất bại ở thể loại cờ tiêu chuẩn lên 101 ván, xô đổ kỷ lục 100 ván trước đó của Đinh Lập Nhân. Chuỗi 101 ván đấu kỷ lục này bao gồm 33 ván thắng và 68 ván hòa.[207]
Từ ngày 27 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11, Carlsen tham gia giải Giải vô địch cờ vua Fischer Random thế giới FIDE chính thức đầu tiên. Với tư cách là nhà vô địch cờ Fischer Random không chính thức, anh được xếp hạt giống thẳng vào vòng bán kết. Tại đây, anh đã đánh bại Fabiano Caruana với tỷ số 12½–7½, nhưng sau đó để thua Wesley So trong trận chung kết với tỷ số đậm 2½–13½.[208] Cuối tháng 11, Carlsen giành chức vô địch giải Tata Steel Cờ nhanh & Cờ chớp, giải đấu cuối cùng của Grand Chess Tour 2019, với số điểm ấn tượng 27/36.[209] Tại giải London Chess Classic 2019 diễn ra vào tháng 12 (vòng chung kết của hệ thống Grand Chess Tour 2019), Carlsen đã thất bại trước Vachier-Lagrave ở loạt trận tie-break vòng bán kết với tỷ số 14½–15½.[210] Sau đó, anh vượt qua Levon Aronian để giành vị trí thứ ba chung cuộc.[211]
Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 12, Carlsen tranh tài tại Giải vô địch cờ nhanh thế giới 2019. Anh giành chức vô địch với thành tích bất bại đạt 11½/15 điểm (+8-0=7), qua đó đòi lại danh hiệu mà mình từng để mất vào năm 2016.[212] Trong hai ngày tiếp theo (29–30 tháng 12), anh tiếp tục tham gia Giải vô địch cờ chớp thế giới 2019. Anh lên ngôi vô địch sau khi đánh bại Hikaru Nakamura ở loạt trận tie-break quyết định, với một ván hòa bằng quân Đen và một ván thắng bằng quân Trắng. Tổng điểm của anh tại giải đấu này là 16½/21 (+13−1=7).[213] Đây là lần thứ hai trong sự nghiệp anh cùng lúc nắm giữ cả ba danh hiệu vô địch thế giới (cờ tiêu chuẩn, cờ nhanh và cờ chớp) — hay còn gọi là cú ăn ba vương miện (triple crown).[130] Anh khép lại năm thi đấu thành công rực rỡ với tổng cộng mười chức vô địch tại các giải đấu cờ trực tiếp cấp độ siêu đại kiện tướng.[214]
Năm 2020
[sửa | sửa mã nguồn]Từ ngày 10 đến ngày 26 tháng 1, Carlsen tham gia tranh tài tại Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 82.Anh cán đích ở vị trí thứ hai với số điểm 8/13 (+3−0=10), kém người chiến thắng là Caruana hai điểm.[215] Tại giải đấu, Carlsen đã vượt qua kỷ lục chuỗi 110 ván bất bại ở thể loại cờ tiêu chuẩn của Sergei Tiviakov.[216]
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 khiến hàng loạt giải đấu trực tiếp bị hủy bỏ, Carlsen đã cùng Chess24 đứng ra tổ chức giải Magnus Carlsen Invitational. Được quảng bá là "giải đấu cờ vua trực tuyến chuyên nghiệp đầu tiên", giải cờ nhanh gồm 8 kỳ thủ này diễn ra từ ngày 18 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5 với tổng quỹ giải thưởng trị giá 250.000 USD. Giai đoạn đầu tiên thi đấu theo thể thức vòng tròn một lượt, sau đó bốn kỳ thủ đứng đầu sẽ bước vào vòng loại trực tiếp (playoff).[217] Carlsen đã giành chức vô địch sau khi đánh bại Hikaru Nakamura với tỷ số 2½–1½ trong trận chung kết.[218]
Carlsen tham gia tranh tài tại giải Norway Chess lần thứ 8 từ ngày 5 đến ngày 16 tháng 10. Đây là giải đấu trực tiếp cấp độ siêu đại kiện tướng đầu tiên được tổ chức kể từ khi các lệnh hạn chế xã hội do đại dịch COVID-19 được áp dụng.[219] Trong khuôn khổ giải đấu này, chuỗi trận bất bại ở thể loại cờ tiêu chuẩn của Carlsen đã bị chặn đứng bởi Jan-Krzysztof Duda.[220] Trước đó, Carlsen đã trải qua 125 ván đấu cờ tiêu chuẩn liên tiếp không biết đến mùi thất bại, kéo dài trong suốt 2 năm 2 tháng và 10 ngày.[219] Trong chuỗi trận kỷ lục này, anh đạt thành tích 42 ván thắng và 83 ván hòa với hệ số Elo trung bình của các đối thủ là 2745, tương đương với trình độ của một kỳ thủ thuộc top 20 thế giới.[221] Bất chấp cú vấp ngã đó, Carlsen vẫn vô địch giải đấu sớm trước một vòng,[222] cán đích với tổng điểm 19½, hơn á quân Alireza Firouzja một điểm.[223]
Năm 2021
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 1, Carlsen tham gia tranh tài tại Giải cờ vua Tata Steel lần thứ 83. Anh giành vị trí thứ sáu chung cuộc với số điểm 7½/13, trong đó có một ván thua trước đại kiện tướng trẻ người Nga Andrey Esipenko.[224] Đây là thất bại đầu tiên của Carlsen trước một kỳ thủ tuổi teen (ở thể loại cờ tiêu chuẩn) kể từ năm 2011,[225] đồng thời là trận thua đầu tiên của anh trước một kỳ thủ có hệ số Elo dưới 2700 kể từ năm 2015.[226]
Trong suốt năm đó, Carlsen cũng tham gia nhiều giải cờ vua trực tuyến thuộc hệ thống Meltwater Champions Chess Tour.
Tại Cúp cờ vua thế giới FIDE 2021 tổ chức ở Sochi, Carlsen đã giành chiến thắng trong trận tranh hạng ba trước Fedoseev, sau khi để thua ở bán kết trước Duda – người sau đó đã lên ngôi vô địch.[227]
Carlsen sau đó đã vô địch giải Norway Chess lần thứ 9, một lần nữa cán đích với 19½ điểm, xếp trên á quân Alireza Firouzja. Sau ván thua duy nhất ở vòng năm nội dung cờ tiêu chuẩn trước Karjakin, Carlsen đã thắng liền bốn ván cờ tiêu chuẩn trước Firouzja, Tari, Karjakin và Rapport, trước khi khép lại giải đấu bằng một ván hòa cờ tiêu chuẩn và chiến thắng cờ Armageddon trước đối thủ thách đấu Ngôi vô địch Thế giới trong tương lai của mình là Ian Nepomniachtchi.[228]
Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 12, Carlsen tham dự Giải vô địch cờ nhanh thế giới 2021. Anh giành vị trí thứ 3 (nhờ chỉ số phụ) với số điểm 9½/13 (+7-1=5). Trong hai ngày tiếp theo, từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 12, anh góp mặt tại Giải vô địch cờ chớp thế giới 2021. Anh xếp hạng 12 chung cuộc với số điểm 13½/21 (+12−6=3).[229]
Giải vô địch cờ vua thế giới 2021
[sửa | sửa mã nguồn]
Tại Giải vô địch cờ vua thế giới 2021, Carlsen đã đánh bại người thách đấu Ian Nepomniachtchi ở Ván 6 sau khi hòa ở cả năm ván đầu tiên. Đây là kết quả phân định thắng thua đầu tiên trong một ván cờ tiêu chuẩn tại Giải vô địch cờ vua thế giới sau hơn 5 năm, và với 136 nước đi, đây cũng là ván đấu dài nhất trong lịch sử của giải đấu này.[230] Sau đó, Carlsen tiếp tục đánh bại Nepomniachtchi ở các Ván 8, 9 và 11, qua đó bảo vệ thành công ngôi vô địch.[231] Sau trận đấu, Carlsen tuyên bố rằng "Trừ khi Firouzja giành chiến thắng tại Giải đấu Ứng viên, nếu không thì tôi khó có khả năng sẽ thi đấu trận tranh ngôi vô địch thế giới tiếp theo."[232]
| Hệ số Elo | Hạng | Các ván đấu | Điểm | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | ||||
| 2856 | 1 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 1 | ½ | 1 | 1 | ½ | 1 | Không cần thi đấu | 7½ | |||
| 2782 | 5 | ½ | ½ | ½ | ½ | ½ | 0 | ½ | 0 | 0 | ½ | 0 | 3½ | ||||
Năm 2022
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 1, Carlsen đã giành chức vô địch Giải cờ vua Tata Steel lần thứ tám trong sự nghiệp. Anh kết thúc giải đấu với số điểm 9½/13 và duy trì thành tích bất bại với sáu ván thắng, trong đó có các chiến thắng trước Shakhriyar Mamedyarov và Fabiano Caruana.[233]
Đầu tháng 6, Carlsen giành vị trí quán quân tại giải Norway Chess, xếp trên Shakhriyar Mamedyarov và Viswanathan Anand (lần lượt cán đích ở vị trí thứ hai và thứ ba).[234] Anh kết thúc với số điểm 16½/30,[234] giữ vững mạch bất bại và giành được ba ván thắng trước Teimour Radjabov, Anish Giri và Shakhriyar Mamedyarov. Đây là chức vô địch thứ tư liên tiếp của Carlsen tại siêu giải đấu danh giá này, và là danh hiệu thứ năm của anh tại đây trong thập kỷ qua.[235]
Vào ngày 20 tháng 7, đúng thời hạn mà FIDE đưa ra, Carlsen tuyên bố sẽ không bảo vệ ngôi vô địch thế giới của mình trước Nepomniachtchi tại trận tranh ngôi Giải vô địch cờ vua thế giới 2023.[236] Carlsen chia sẻ rằng anh thích thi đấu tại các giải cờ vua thông thường hơn là các trận tranh ngôi vô địch,[237] nhưng vẫn sẽ tiếp tục sự nghiệp cờ vua chuyên nghiệp.[238]
Trong suốt năm đó, Carlsen đã tranh tài tại hệ thống giải Champions Chess Tour 2022.[239] Anh đã giành chiến thắng tại các giải Airthings Masters, Charity Cup và FTX Crypto Cup.[240][241]
Carlsen cũng góp mặt trong đội tuyển Na Uy tham dự Olympiad cờ vua lần thứ 44.[239] Bên cạnh đó, anh cán đích ở vị trí á quân tại giải Chess.com Speed Championship.[242]
Carlsen đã giành chức vô địch Giải vô địch cờ nhanh thế giới 2022 với số điểm 10/13 (+8-1=4). Anh tiếp tục lên ngôi tại Giải vô địch cờ chớp thế giới 2022 với số điểm 16/21 (+13-2=6). Kết quả này đánh dấu lần thứ ba trong sự nghiệp Carlsen đồng thời nắm giữ cả ba danh hiệu vô địch thế giới ở các thể loại cờ tiêu chuẩn, cờ nhanh và cờ chớp, sau hai lần trước đó vào các năm 2014 và 2019.[243]
Rút lui khỏi giải Sinquefield Cup
[sửa | sửa mã nguồn]Trong tháng 8 và tháng 9, Carlsen tham gia Sinquefield Cup 2022 với tư cách kỳ thủ đặc cách, đây là một giải đấu nằm trong hệ thống Grand Chess Tour 2022. Anh giành chiến thắng trong ván đầu tiên trước Nepomniachtchi, nhà vô địch của Giải đấu Ứng viên 2022. Sau đó, anh hòa ván thứ hai trước Levon Aronian, qua đó chia sẻ vị trí dẫn đầu với kỳ thủ đặc cách người Mỹ Hans Niemann. Đến ván thứ ba, Carlsen đã bị Niemann đánh bại, chấm dứt chuỗi 53 ván bất bại ở thể loại cờ tiêu chuẩn của anh; trang chess24 đã mô tả kết quả này là một "chiến thắng gây chấn động".[244][245] Ngay sau đó, Carlsen thông báo rút lui khỏi giải bằng một bài đăng trên Twitter kèm đoạn video về huấn luyện viên bóng đá người Bồ Đào Nha José Mourinho với câu nói: "Tôi thực sự chọn cách im lặng. Nếu tôi lên tiếng, tôi sẽ gặp rắc rối lớn."[246][247] Tờ The New York Times nhận định rằng "cộng đồng mạng đều ngầm hiểu bài đăng của Carlsen là lời ám chỉ Niemann đã gian lận bằng cách nào đó trong ván đấu", mặc dù không có bằng chứng cụ thể nào về việc gian lận được tìm thấy.[248] Các kết quả thi đấu trước đó của Carlsen vẫn ảnh hưởng đến hệ số Elo FIDE của anh, tuy nhiên chúng sẽ bị xóa khỏi bảng xếp hạng của giải đấu.[247] Đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp Carlsen rút lui khi một giải đấu lớn đang diễn ra, một hành động được coi là "gần như chưa từng có tiền lệ" trong làng cờ vua đỉnh cao.[247]
Hai tuần sau, Carlsen đối đầu với Niemann tại giải Julius Baer Generation Cup, một giải đấu thành phần thuộc hệ thống cờ vua trực tuyến Champions Chess Tour 2022. Cầm quân đen, Carlsen đã xin thua ngay sau nước đi đầu tiên, khiến vụ bê bối tiếp tục leo thang.[249] Vào ngày 26 tháng 9, Carlsen cuối cùng đã phá vỡ sự im lặng và chính thức cáo buộc Niemann gian lận.[250] Sau đó, vào ngày 20 tháng 10, Niemann đã đệ đơn kiện Carlsen cùng bốn bị đơn khác với năm cáo buộc, bao gồm bôi nhọ và vu khống.[251][252] Vụ kiện đã bị bác bỏ vào tháng 6 năm 2023, khi thẩm phán phán quyết rằng các cáo buộc phỉ báng nằm ngoài thẩm quyền xét xử của tòa án liên bang.[253] Đến tháng 12 năm 2023, Ủy ban Đạo đức và Kỷ luật FIDE đã phạt Carlsen 10.000 € vì hành vi tự ý rút lui khỏi giải đấu.[254][255]
Năm 2023
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào tháng 1, Carlsen tham dự Giải cờ vua Tata Steel. Tại giải đấu này, anh đã để thua hai ván liên tiếp – điều chưa từng xảy ra kể từ năm 2015 – lần lượt trước Anish Giri và thần đồng trẻ người Uzbekistan Nodirbek Abdusattorov.[256] Dù vậy, anh đã kịp lấy lại phong độ để cán đích ở vị trí thứ 3, bằng điểm với Abdusattorov và xếp sau nhà vô địch Giri.[257] Đến tháng 2, Carlsen tiếp tục lên ngôi vô địch tại giải Airthings Masters 2023 sau khi đánh bại Đại kiện tướng người Mỹ Hikaru Nakamura trong trận chung kết.[cần dẫn nguồn]
Do đã từ chối bảo vệ ngôi vương từ trước, Carlsen chính thức trở thành cựu vương sau khi trận tranh ngôi vô địch thế giới giữa Đinh Lập Nhân và Ian Nepomniachtchi (Giải vô địch cờ vua thế giới 2023) khép lại với chiến thắng thuộc về kỳ thủ họ Đinh. Trong một cuộc phỏng vấn sau đó, Carlsen chia sẻ rằng anh "bị thiếu động lực thi đấu cờ tiêu chuẩn do sự thống trị của việc chuẩn bị khai cuộc".[258] Vì lý do này, anh cũng không tham gia vào chu kỳ cạnh tranh của Giải vô địch cờ vua thế giới 2024.[cần dẫn nguồn]
Tại giải Norway Chess, Carlsen có màn trình diễn mờ nhạt khi chỉ giành được 11½/27 điểm, với 8 ván hòa, 1 ván thua và không thắng ván nào ở thể loại cờ tiêu chuẩn. Dù vậy, anh vẫn kịp gỡ gạc bằng việc thắng 7 trên 8 ván cờ chớp sinh tử (Armageddon) diễn ra ngay sau các ván cờ tiêu chuẩn có kết quả hòa.[cần dẫn nguồn]
Carlsen cũng tham gia hai giải đấu thuộc hệ thống Grand Chess Tour dưới tư cách kỳ thủ đặc cách và đều lên ngôi vô địch tại cả hai giải Cờ nhanh & Cờ chớp Ba Lan và Cờ nhanh & Cờ chớp Croatia.[cần dẫn nguồn]
Tại giải Cúp cờ vua thế giới 2023, Carlsen lọt vào trận chung kết sau khi lần lượt đánh bại hạt giống số 65 Aryan Tari ở vòng ba, hạt giống số 32 Vincent Keymer ở vòng bốn, Vasyl Ivanchuk ở vòng năm, Gukesh Dommaraju tại tứ kết và Nijat Abasov ở bán kết. Trong thời gian diễn ra giải đấu, Carlsen từng bị ngộ độc thực phẩm.[259] Bước vào trận chung kết đối đầu với R Praggnanandhaa, Carlsen đã giành chiến thắng ở loạt tie-break, qua đó có lần đầu tiên trong sự nghiệp lên ngôi vô địch World Cup.[259][260]
Anh tiếp tục đánh bại Alireza Firouzja trong trận chung kết Julius Baer Generation Cup 2023 để sở hữu danh hiệu vô địch giải đấu thứ ba trong khuôn khổ hệ thống giải Champions Chess Tour 2023.[261]
Carlsen cũng có lần thứ ba vô địch giải Speed Chess Championship sau khi hạ bệ nhà đương kim vô địch 5 lần liên tiếp Hikaru Nakamura trong trận chung kết, chặn đứng cơ hội lập cú sốc 6 danh hiệu liên tiếp của kỳ thủ này.[262]
Ở trận chung kết tổng Champions Chess Tour 2023, Carlsen vượt qua Wesley So để năm thứ ba liên tiếp thống trị hệ thống giải đấu này.[263]
Cuối năm, Carlsen lên ngôi vô địch tại Giải vô địch cờ nhanh thế giới 2023 với thành tích 10/13 điểm (+7-0=6), mang về danh hiệu Giải vô địch cờ nhanh thế giới thứ 5 trong sự nghiệp. Anh khép lại năm 2023 rực rỡ bằng chức vô địch Giải vô địch cờ chớp thế giới 2023 với số điểm 16/21 (+12-1=8) để có lần thứ 7 đăng quang tại Giải vô địch cờ chớp thế giới. Thành tích này giúp Carlsen trở thành kỳ thủ nam đầu tiên trong lịch sử bảo vệ thành công cả hai danh hiệu vô địch thế giới cờ nhanh và cờ chớp cùng một lúc.[264][265]
Vinh danh
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen giành Oscar Cờ vua vào các năm 2009, 2010, 2011 và 2012. Oscar Cờ vua được tạp chí cờ vua Nga "64" trao cho kỳ thủ xuất sắc nhất năm thông qua các phiếu bầu từ những nhà phê bình cờ vua, phóng viên và tác giả.[266][267] Tờ báo Na Uy "Verdens Gang" đã trao tặng danh hiệu Årets navn ("Người của năm") cho Carlsen 2 lần, vào năm 2009[268] và 2013.[269] VG cũng trao tặng anh danh hiệu "Vận động viên của năm" vào năm 2009.[270] Trong cùng năm đó, anh được trao tặng danh hiệu Folkets Idrettspris – một danh hiệu do các độc giả tờ Dagbladet bình chọn.[271] Vào năm 2011, anh được trao giải thưởng Peer Gynt, một giải thưởng của Na Uy nhằm vinh danh người hoặc tổ chức đã có những thành tích xuất sắc và vượt trội trong năm vừa qua.[272] Năm 2012, anh tiếp tục được trao tặng giải "Folkets Idrettspris".[273] Năm 2013, tạp chí Time vinh danh Carlsen là một trong 100 người ảnh hưởng nhất đến thế giới.[274]
Phong cách thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Khi còn bé, Carlsen có phong cách thi đấu dữ dội và mạnh mẽ,[275][276] và theo Agdestein, phong cách chơi của anh được miêu tả là "không sợ hãi, luôn sẵn sàng thí quân để hoạt động".[277] Khi trưởng thành, Carlsen nhận ra rằng phong cách chơi mạo hiểm này không còn phù hợp ở đẳng cấp thế giới nữa. Khi tham dự các giải đấu hàng đầu, anh luôn vất vả trước các kỳ thủ mạnh và gặp rất nhiều khó khăn sau khai cuộc. Để có thể tiếp tục, phong cách của Carlsen trở nên ôn hòa hơn, có khả năng xử lý tốt tất cả các loại thế trận. Khi khai cuộc, Carlsen thường mở đầu với 1.d4 và 1.e4 cũng như 1.c4 và 1.Mf3 khiến cho các đối thủ rất khó đối phó với anh.[278][279] Evgeny Sveshnikov đã từng phê bình cách chơi khai cuộc của Carlsen, trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 2013 rằng nếu không có một sự tiếp cận "khoa học" để chuẩn bị, "tương lai của anh ta không hề hứa hẹn".[280]
Jan Timman, 2012[281]
Gary Kasparov, người huấn luyện Carlsen từ 2009 đến 2010 nói rằng Carlsen có phong cách nặng về chiến lược và thế trận giống với các cựu vô địch thế giới như Anatoly Karpov, José Raúl Capablanca và Vasily Smyslov hơn là về chiến thuật như Alexander Alekhine, Mikhail Tal và chính bản thân Kasparov.[282] Tuy nhiên, theo Carlsen, anh không thiên về loại phong cách thi đấu nào cả.[82] Vào năm 2013, Kasparov cho rằng "Carlsen là sự tổng hợp của Karpov và Bobby Fischer. Anh tìm cách đạt được thế trận tốt hơn và không bao giờ để tuột mất. Điều đó khiến các đối thủ cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức."[283] Anand đã từng phát biểu về Carlsen: "Các ý tưởng lớn xuất hiện trong đầu anh ta một cách rất tự nhiên. Anh ta cũng rất linh hoạt. Anh ta biết mọi loại cấu trúc và có thể chơi gần như bất kỳ thế trận nào. … Magnus quả thật có thể làm bất cứ việc gì."[284] Kasparov bày tỏ quan điểm tương tự: "Carlsen có khả năng đánh giá chính xác mọi loại thế trận, điều mà trước đó chỉ có Kasparov mới dám khoe khoang."[285] Trong một cuộc phỏng vấn năm 2012, Vladimir Kramnik cho rằng rất nhiều thành công của Carlsen trước các kỳ thủ hàng đầu đến từ "nền tảng thể lực tuyệt vời" và khả năng tránh "sai sót tâm lý", khiến cho Carlsen có thể duy trì thi đấu ở mức độ cao qua các trận đấu dài hơi và đến tận cuối các giải đấu, khi mà các kỳ thủ khác đều đã cảm thấy mệt mỏi.[286]
Kỹ năng tàn cuộc của Carlsen được miêu tả là thuộc hàng xuất sắc nhất trong lịch sử cờ vua.[287][288][289][290] Jon Speelman, phân tích một vài trận mà Carlsen chơi toàn cuộc từ Giải London Classic năm 2012 (đặc biệt là chiến thắng trước McShane, Aronian và Adams) đã miêu tả một thứ mà ông gọi là "Hiệu ứng Carlsen":
... nhờ sự kết hợp giữa kỹ năng và danh tiếng, anh ta khiến mọi đối thủ phải mắc lỗi. … Anh ta có thể chơi mãi mãi một cách bình tĩnh, cẩn thận và có lẽ quan trọng nhất là không hề sợ hãi: tính toán chính xác với chỉ một vài lỗi sai và một tỉ lệ lớn các nước "rất tốt". Điều đó làm cho anh ta trở thành một con quái vật và khiến rất nhiều đối thủ sợ hãi, nản chí.[291]
Elo
[sửa | sửa mã nguồn]Thành tích
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 1 năm 2009, theo bảng xếp hạng của FIDE, với 15 tuổi, 32 ngày, Carlsen đạt elo 2625, trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng vượt qua mốc 2600 (kỷ lục này sau đó bị phá vỡ bởi Wesley So ở 14 tuổi, 358 ngày).[292] Vào tháng 7 năm 2007, ở 16 tuổi, 213 ngày, Carlsen đạt elo 2710, trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng vượt qua mốc 2700.[293] Vào tháng 5 tháng 9 năm 2008, sau khi thắng vòng 4 tại Giải Bilbaol Carlsen, chỉ mới 17 tuổi, 280 ngày đã trở thành số 1 thế giới trên bảng xếp hạng chưa chính thức.[294][295] Chức vô địch Giải Nanjing Pearl 2009 giúp cho elo của Carlsen tăng lên 2801, khiến anh trở thành người trẻ nhất từng vượt qua mốc 2800 (18 tuổi, 336 ngày).[67] Người trẻ nhất trước đó là Kramnik ở tuổi 25[296] Trước Carlsen, chỉ có Kasparov, Topalov, Kramnik và Anand từng vượt qua mốc 2800.[297] Sau Giải Tưởng niệm Tal (tháng 11 năm 2009) anh trở thành số 1 thế giới trên bảng xếp hạng không chính thức với mức elo mới là 2805.7, 0.6 điểm nhiều hơn kỳ thủ số 2, Veselin Topalov.[298]
Theo bảng xếp hạng FIDE tháng 1 năm 2010 (tính 16 trận tại Giải Tưởng niệm Tal và Giải London Chess Classic), Elo của Carlsen đạt mốc 2810.[299] Điều này đồng nghĩa với việc Carlsen trở thành số 1 trẻ nhất trong lịch sử thế giới (19 tuổi, 32 ngày) và là kỳ thủ số 1 đầu tiên không thuộc Nga và các nước Đông Âu kể từ Bobby Fischer năm 1971.[77][300][301][302]
Theo bảng xếp hạng FIDE tháng 3 năm 2010, Carlsen đạt mức elo cao mới trong sự nghiệp là 2813 – chỉ sau Kasparov.[80] Vào tháng 1 năm 2013, theo bảng xếp hạng FIDE< Carlsen đạt elo 2861, vượt qua kỷ lục elo 2851 của Kasparov lập được vào tháng 7 năm 1999.[114][115]
Thứ hạng trong top 100 FIDE
[sửa | sửa mã nguồn]| Bảng xếp hạng | Elo | Số ván đấu | Thay đổi | Xếp hạng | Tuổi |
|---|---|---|---|---|---|
| Tháng 1 năm 2006 | 2625 | 40 | +55 | 89 | 15 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 4 năm 2006 | 2646 | 13 | +21 | 63 | 15 tuổi, 4 tháng |
| Tháng 7 năm 2006 | 2675 | 27 | +29 | 31 | 15 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 10 năm 2006 | 2698 | 46 | +23 | 21 | 15 tuổi, 10 tháng |
| Tháng 1 năm 2007 | 2690 | 11 | −8 | 24 | 16 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 4 năm 2007 | 2693 | 27 | +3 | 22 | 16 tuổi, 4 tháng |
| Tháng 7 năm 2007 | 2710 | 19 | +17 | 17 | 16 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 10 năm 2007 | 2714 | 25 | +4 | 16 | 16 tuổi, 10 tháng |
| Tháng 1 năm 2008 | 2733 | 37 | +19 | 13 | 17 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 4 năm 2008 | 2765 | 27 | +32 | 5 | 17 tuổi, 4 tháng |
| Tháng 7 năm 2008 | 2775 | 16 | +10 | 6 | 17 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 10 năm 2008 | 2786 | 31 | +11 | 4 | 17 tuổi, 10 tháng |
| Tháng 1 năm 2009 | 2776 | 17 | −10 | 4 | 18 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 4 năm 2009 | 2770 | 27 | −6 | 3 | 18 tuổi, 4 tháng |
| Tháng 7 năm 2009 | 2772 | 12 | +2 | 3 | 18 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 9 năm 2009 | 2772 | 10 | 0 | 4 | 18 tuổi, 9 tháng |
| Tháng 11 năm 2009 | 2801 | 10 | +29 | 2 | 18 tuổi, 11 tháng |
| Tháng 1 năm 2010 | 2810 | 16 | +9 | 1 | 19 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 3 năm 2010 | 2813 | 13 | +3 | 1 | 19 tuổi, 3 tháng |
| Tháng 5 năm 2010 | 2813 | 0 | 0 | 1 | 19 tuổi, 5 tháng |
| Tháng 7 năm 2010 | 2826 | 10 | +13 | 1 | 19 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 9 năm 2010 | 2826 | 0 | 0 | 1 | 19 tuổi, 9 tháng |
| Tháng 11 năm 2010 | 2802 | 14 | −24 | 2 | 19 tuổi, 11 tháng |
| Tháng 1 năm 2011 | 2814 | 17 | +12 | 1 | 20 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 3 năm 2011 | 2815 | 13 | +1 | 2 | 20 tuổi, 3 tháng |
| Tháng 5 năm 2011 | 2815 | 0 | 0 | 2 | 20 tuổi, 5 tháng |
| Tháng 7 năm 2011 | 2821 | 10 | +6 | 1 | 20 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 9 năm 2011 | 2823 | 10 | +2 | 1 | 20 tuổi, 9 tháng |
| Tháng 11 năm 2011 | 2826 | 10 | +3 | 1 | 20 tuổi, 11 tháng |
| Tháng 1 năm 2012 | 2835 | 17 | +9 | 1 | 21 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 3 năm 2012 | 2835 | 13 | 0 | 1 | 21 tuổi, 3 tháng |
| Tháng 5 năm 2012 | 2835 | 0 | 0 | 1 | 21 tuổi, 5 tháng |
| Tháng 7 năm 2012 | 2837 | 9 | +2 | 1 | 21 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 8 năm 2012 | 2837 | 0 | 0 | 1 | 21 tuổi, 8 tháng |
| Tháng 9 năm 2012 | 2843 | 10 | +6 | 1 | 21 tuổi, 9 tháng |
| Tháng 10 năm 2012 | 2843 | 0 | 0 | 1 | 21 tuổi, 10 tháng |
| Tháng 11 năm 2012 | 2848 | 10 | +5 | 1 | 21 tuổi, 11 tháng |
| Tháng 12 năm 2012 | 2848 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi |
| Tháng 1 năm 2013 | 2861 | 8 | +13 | 1 | 22 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 2 năm 2013 | 2872 | 13 | +11 | 1 | 22 tuổi, 2 tháng |
| Tháng 3 năm 2013 | 2872 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi, 3 tháng |
| Tháng 4 năm 2013 | 2872 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi, 4 tháng |
| Tháng 5 năm 2013 | 2868 | 14 | −4 | 1 | 22 tuổi, 5 tháng |
| Tháng 6 năm 2013 | 2864 | 9 | −4 | 1 | 22 tuổi, 6 tháng |
| Tháng 7 năm 2013 | 2862 | 9 | −2 | 1 | 22 tuổi, 7 tháng |
| Tháng 8 năm 2013 | 2862 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi, 8 tháng |
| Tháng 9 năm 2013 | 2862 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi, 9 tháng |
| Tháng 10 năm 2013 | 2870 | 6 | +8 | 1 | 22 tuổi, 10 tháng |
| Tháng 11 năm 2013 | 2870 | 0 | 0 | 1 | 22 tuổi, 11 tháng |
| Tháng 12 năm 2013 | 2872 | 10 | +2 | 1 | 23 tuổi |
| Tháng 1 năm 2014 | 2872 | 0 | 0 | 1 | 23 tuổi, 1 tháng |
| Tháng 2 năm 2014 | 2872 | 0 | 0 | 1 | 23 tuổi, 2 tháng |
| Tháng 3 năm 2014 | 2881 | 5 | +9 | 1 | 23 tuổi, 3 tháng |
- Elo được in đậm là mức elo cao nhất mà anh đạt được tính đến ngày bảng xếp hạng được công bố
Tỉ số đối đầu với một vài đại kiện tướng
[sửa | sửa mã nguồn](Không tính cờ nhanh, cờ chớp và cờ tưởng; được viết dưới dạng +thắng –thua =hòa, tính đến 3 Tháng 2 2014.)[303]
Kỳ thủ từng vô địch thế giới được in đậm
- Michael Adams +8−1=6
- Evgeny Alekseev +0−2=7
- Viswanathan Anand +10−8=38
- Levon Aronian +12−5=31
- Étienne Bacrot +3−0=8
- Fabiano Caruana +8−5=10
- Leinier Domínguez +5−0=5
- Vugar Gashimov +1−0=3
- Boris Gelfand +5−1=9
- Anish Giri +0−1=11
- Alexander Grischuk +4−1=8
- Pentala Harikrishna +2−1=2
- Vassily Ivanchuk +8−3=15
- Dmitry Jakovenko +4−0=2
- Baadur Jobava +2−2=2
- Gata Kamsky +3−2=6
- Sergey Karjakin +3−1=14
- Vladimir Kramnik +5−4=14
- Peter Leko +3−3=10
- Vladimir Malakhov +0−0=4
- Shakhriyar Mamedyarov +5−1=7
- Luke McShane +3−1=2
- Alexander Morozevich +3−0=8
- Sergei Movsesian +0−1=2
- Arkadij Naiditsch +3−2=7
- Hikaru Nakamura +12−0=18
- David Navara +1−1=4
- Ian Nepomniachtchi +0−3=1
- Judit Polgár +2−0=1
- Ruslan Ponomariov +2−1=3
- Teimour Radjabov +8−1=17
- Krishnan Sasikiran +0−0=3
- Alexei Shirov +6−2=8
- Nigel Short +2−0=3
- Sanan Sjugirov +0−1=0
- Peter Svidler +1−2=10
- Evgeny Tomashevsky +1−0=1
- Veselin Topalov +8−5=9
- Maxime Vachier-Lagrave +5−1=8
- Loek van Wely +7−2=5
- Andrei Volokitin +0−4=2
- Vương Hạo +3−2=1
Các trận đấu đáng nhớ
[sửa | sửa mã nguồn]- Lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2020 tại Wayback Machine Carlsen vô địch Tata Steel Chess 2019 lần thứ 7
- Carlsen–Garry Kasparov, Reykjavík Rapid (2004), Queen's Gambit Declined: Cambridge Springs Variation (D52), ½–½ Ở tuổi 13, Carlsen đã có cơ hội chiến thắng rất rõ ràng với ván cờ nhanh trước Garry Kasparov,[19] kỳ thủ số 1 thế giới thời điểm bấy giờ,[304] và được rất nhiều người công nhận là kỳ thủ vĩ đại nhất mọi thời đại.[305]
- Carlsen–Veselin Topalov, M-Tel Masters (2009), Semi-Slav Defense: General (D43), 1–0 Đây là chiến thắng đầu tiên của Carlsen trước một kỳ thủ 2800+.[306]
- Carlsen–Boris Gelfand, Tal Memorial (2011), Slav Defense: Quiet Variation. Schallopp Defense (D12), 1–0 Kỳ thủ số 1 Israel và cũng là người thách đấu nhà vô địch thế giới Anand, Gelfand tấn công mạnh mẽ bằng xe vào hàng cuối của Đen nhưung Carlsen đã chế ngự được. Carlsen gọi đây là "một trong những ván thú vị nhất tôi từng chơi gần đây".[307]
- Carlsen–Hikaru Nakamura, London Chess Classic (2011), Italian Game: Classical Variation. Giuoco Pianissimo (C53), 1–0 Chạm trán với kỳ thủ số 1 nước Mỹ, Carlsen phá hủy cấu trúc tốt của bên Đen.
- Carlsen–Viswanathan Anand, Bilbao Masters (2012), Sicilian Defense: Canal Attack. Main Line (B52), 1–0 Đối đầu với đương kim vô địch thế giới trong một trận đấu mà anh công nhận là một trong những ván hay nhất trong sự nghiệp của mình,[308] Carlsen thí 1 tốt và khiến bên Đen rơi vào thế trận chật hẹp, gò bó, khiến cho Anand phải bỏ cuộc ở nước thứ 30.
Ngoài cờ vua
[sửa | sửa mã nguồn]Carlsen là người mẫu cho chiến dịch quảng cáo thu đông 2010 của G-Star Raw với diễn viên Liv Tyler. Anton Corbijn là người chụp ảnh.[309] Chiến dịch này được kết hợp với sự kiện "RAW World Chess Challenge" ở New York – một sự kiện mà Carlsen đấu online với một đội gồm các kỳ thủ trên toàn thế giới (đội sẽ đi nước đi được nhiều người trong đội chọn nhất, những nước đi này được gợi ý bởi 3 GM: Maxime Vachier-Lagrave, Hikaru Nakamura và Judit Polgár). Carlsen, cầm trắng, thắng sau 43 nước.[310] Đạo diễn J.J.Abrams đề nghị Carlsen tham gia đóng "Star Trek Into Darkness" với vai "kỳ thủ đến từ tương lai" nhưng anh đã từ chối vì không đạt được giấy cấp phép làm việc ở Mỹ trong thời gian quay phim.[311] Vào năm 2012, Carlsen xuất hiện trong chương trình "60 Minutes" của CBS,[312] và là khách mời của "The Colbert Report".[313] Anh cũng được phỏng vấn bởi Rainn Wilson cho SoulPancake.[314] Carlsen được chọn là một trong những "người đàn ông gợi cảm của năm 2013" bởi tạp chí Cosmopolitan.[315] Vào tháng 8 năm 2013, Carlsen trở thành đại sứ cho Nordic Semiconductor.[316]
Kể từ 2012, Carlsen là kỳ thủ duy nhất đang thi đấu có một người quản lý riêng toàn thời gian. Espen Agdestein, anh của huấn luyện viên cũ Simen và một kiện tướng FIDE[317] đồng thời cũng từng tham dự Olympiad Cờ vua 2 lần với đội tuyển Na Uy, bắt đầu làm việc như một người đại diện cho Carlsen vào khoảng cuối năm 2008. Công việc của Espen Agdestein là tìm kiếm tài trợ và sắp xếp các cuộc liên hệ với giới truyền thông, nhưng kể từ 2011, anh đảm nhiệm thêm công việc quản lý (công việc này trước đây do ông Henrik Carlsen (cha của Carlsen) đảm nhiệm).[318] Carlsen công bố số tiền mà anh kiếm được năm 2012 là 1,2 triệu USD, phần lớn đến từ các nhà tài trợ.[319]
Vào tháng 2 năm 2014, Carlsen xuất hiện trong chiến dịch quảng cáo xuân - hè năm 2014 của G-Star Raw cùng với diễn viên kiêm người mẫu Lily Cole.[320]
Sách và phim
[sửa | sửa mã nguồn]- Valaker, O; Carlsen, M. (2004). Lær sjakk med Magnus [Learn Chess with Magnus]. Gyldendal Norsk Forlag. ISBN 978-82-05-33963-7.
- The Prince of Chess, a film about Magnus Carlsen (2005). Directed by Øyvind Asbjørnsen.[321]
- Opedal, Hallgeir (2011). Smarte trekk. Magnus Carlsen: Verdens beste sjakkspiller [Smart Moves. Magnus Carlsen: The World's Best Chess player]. Kagge. ISBN 978-82-489-1050-3
- Mikhalchishin, Adrian; Stetsko, Oleg. (2012). Fighting Chess with Magnus Carlsen (Progress in Chess). Edition Olms. ISBN 978-3-283-01020-1.
- Crouch, Colin (2013). Magnus Force: How Carlsen Beat Kasparov's Record. Everyman Chess. ISBN 978-1-78194-133-1.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Briseid, Håkon Martol. "Magnus Carlsen". Trong Bolstad, Erik (biên tập). Store norske leksikon (bằng tiếng Na Uy). Oslo: Norsk nettleksikon. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2019.
{{Chú thích bách khoa toàn thư}}:|author1=bị thiếu (trợ giúp) - ↑ "Sjakkekspertens forklaring på Carlsens sterke vår: – Caruana spilte ham god". Aftenposten (bằng tiếng Na Uy). ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2019.
- ↑ Danielsen, Arne (2010). Mesteren. Magnus Carlsen og sjakkspillet (bằng tiếng Na Uy). Oslo: Cappelen Damm. tr. 27. ISBN 978-82-02-33754-4.
- ↑ Agdestein (2004), p. 10.
- ↑ Max, D.T. (ngày 21 tháng 3 năm 2011). 21 tháng 3 năm 2011#folio=040 "The prince's gambit: Một ngôi sao cờ vua xuất hiện trong kỉ nguyên máy tính". The New Yorker. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ↑ "Just checking". New In Chess. Số 7. 2006. tr. 106.
- ↑ Agdestein (2004), p. 14.
- ↑ McClain, Dylan Loeb (2009). "Magnus Carlsen, thần đồng cờ vua Na Uy". The New York Times. Truy cập 4 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Agdestein (2004), pp. 16–18; 26.
- ↑ Agdestein (2004), pp. 78–79.
- ↑ Agdestein (2004), p. 80.
- ↑ Agdestein (2004), p. 190.
- ↑ Agdestein (2004), p. 104.
- ↑ "European Youth Championship Boys – U14". Chess-Results.com. 22 tháng 11 2003. Truy cập 5 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Carlsen, Magnus (2004). "Magnificent Magnus". New In Chess. Số 2. tr. 48–51.
- ↑ Corus Chess 2004: Report of round 12 – CCT 2004: Hiccup for Anand – Carlsen Supreme. Truy cập 23 Tháng 11 2009.
- ↑ Agdestein, Simen (2006). "On the Road". New In Chess. Số 4. tr. 17–21.
- ↑ Berntsen, Mathias (27 tháng 1 2004). "The Mozart of Chess: Mega Magnus in Wijk aan Zee". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - 1 2 "Boy meets Beast in Reykjavik". ChessBase News. 19 tháng 3 2004. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnificent Magnus, the world's youngest grandmaster". ChessBase News. 30 tháng 4 2004. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Kumar, Vijay (5 tháng 7 2006). "Parimarjan Negi, Đại kiện tướng trẻ nhất trong lịch sử Ấn Độ". ChessBase News. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2011. Truy cập 6 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "FIDE WCC R1: Youngest and oldest falter". ChessBase News. 20 tháng 4 2004. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Østenstad slo ut Magnus Carlsen i sjakk-NM" (bằng tiếng Na Uy). Aftenposten.com. 5 tháng 9 2004. Truy cập 5 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Top 100 Players Tháng 10 2004 – Archive". FIDE. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2020. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Smartfish sensation: Carlsen defeats Shirov". ChessBase News. 4 tháng 1 2005. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "World Champion Vishy Anand!". ChessBase News. 2 tháng 11 2003. Truy cập 21 tháng 8 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Kasimdzhanov and Anand win 3:1, 3:1". ChessBase News. ngày 11 tháng 6 năm 2005. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Valaker, Ole (9 tháng 11 2005). "Deilig å vinne". Nettavisen (bằng tiếng Na Uy). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập 4 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Bareev defeats Carlsen, Bacrot KO's Lautier". ChessBase News. 9 tháng 12 2005. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Khanty-Mansiysk: The prodigies are through". ChessBase News. 15 tháng 12 2005. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Svensen, Tarjei J. (20 tháng 10 2005). "14-year-old Carlsen with 2792 performance". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2006). "Motylev and Magnus move up". New In Chess. Số 2. tr. 42–49.
- ↑ "Carlsen falters, shares victory with Agdestein". ChessBase News. 16 tháng 7 2006. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus Carlsen, 15, Norwegian Chess Champion". ChessBase News. 21 tháng 9 2006. Truy cập 4 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Nafn. "Skáksamband Íslands – Glitnir blitz 2006". Skaksamband.is. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập 3 tháng 1 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Nafn. "Skáksamband Íslands – Results". Skaksamband.is. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập 3 tháng 1 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "37th Chess Olympiad 2006 general. Schachserver der Wiener Zeitung (Austria)". Schach.wienerzeitung.at. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Shipov wins Midnight Sun, Carlsen second". ChessBase News. 3 tháng 7 2006. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "The remarkable Alexander Morozevich wins Biel". ChessBase News. 4 tháng 8 2006. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "The NH Chess Tournament". Nhchess.quinsy.net. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2009. Truy cập 3 tháng 1 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Liss, Erik (12 tháng 9 2006). "Grischuk wins FIDE World Blitz Championship". ChessBase News. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Teimour Radjabov wins Cap d'Agde". ChessBase News. 3 tháng 11 2006. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Tal-Mem Blitz: Anand wins with two point lead". ChessBase News. 19 tháng 11 2006. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2007). "Three cheers for Aronian, Radjabov and Topalov". New In Chess. Số 2. tr. 10–47.
- ↑ "Linares R14: Anand wins Morelia/Linares by a full point". ChessBase News. 10 tháng 3 2007. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Blindfold king Kramnik wins 16th Amber Tournament". ChessBase News. 30 tháng 3 2007. Truy cập 4 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2007). "A Whiff of the Golden Age". New In Chess. Số 5. tr. 22–53.
- ↑ "Carlsen: 'This victory is a milestone for my career'". ChessBase News. 5 tháng 8 2007. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Second Arctic Chess Challenge in Tromsø". ChessBase News. 7 tháng 8 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|accessdate=và|access-date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|archiveurl=và|archive-url=(trợ giúp) - ↑ "Brede Hagen vs Magnus Carlsen". Chessgames.com. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Carlsen vs Carlsen – Magnus beats his dad". ChessBase News. 10 tháng 8 2007. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Khanty-Mansiysk: Gata Kamsky in the Final". ChessBase News. 10 tháng 12 2007. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Wijk R13: Aronian, Carlsen win Wijk aan Zee 2008". ChessBase News. 27 tháng 1 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Linares R14: All games drawn, Anand wins Super-GM". ChessBase News. 7 tháng 3 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Melody Amber: Aronian wins with 2½ point lead". ChessBase News. 27 tháng 3 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Chess News – Magnus Carlsen withdraws from Grand Prix". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Gyimesi, Zoltán (ngày 3 tháng 6 năm 2008). "Miskolc: Carlsen wins the rapid chess match 5:3". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Aerosvit-2008 official site". Ukrchess.org.ua. ngày 20 tháng 6 năm 2008. Truy cập 31 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Aerosvit 2008: Carlsen wins by a full point". ChessBase News. ngày 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Friedel, Frederic (4 tháng 8 2008). "Biel 2008: impressions from the final round". ChessBase News. Truy cập 5 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Fischer, Johannes (4 tháng 8 2008). "Mainz 2008: Anand punishes Carlsen in Grenkeleasing final". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Fischer, Johannes (3 tháng 9 2008). "Mainz 2008: Anand to face Carlsen in Grenkeleasing final". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Bilbao R10: Topalov wins Bilbao, leads in live rankings". ChessBase News. 16 tháng 9 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Sergey Karjakin wins Wijk aan Zee 2009". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Linares R14: All games drawn, Grischuk wins on tiebreak". ChessBase News. 7 tháng 3 2009. Truy cập 4 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ McClain, Dylan Loeb (30 tháng 5 2009). "Highly Ranked Youth Loses Tactical Battle to an Old Pro". New York Times. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - 1 2 "Nanjing: Carlsen wins Pearl Spring with 3002 performance". ChessBase News. 10 tháng 10 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Chess News – Facts and figures: Magnus Carlsen's performance in Nanjing". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ McClain, Dylan Loeb (15 tháng 11 2009). "Kramnik Wins Tal Memorial, Carlsen Claims No. 1 Ranking". New York Times Chess Blog. New York Times. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ McClain, Dylan Loeb (14 tháng 11 2009). "Norwegian, 18, Is Youngest to Be Ranked No. 1 at Chess". New York Times Chess Blog. The New York Times. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "World Blitz Championship: Carlsen wins by three-point margin". ChessBase News. 18 tháng 11 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "London R7: Carlsen wins Chess Classic". ChessBase News. 16 tháng 12 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus Carlsen drops out of World Championship cycle". ChessBase News. 5 tháng 11 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Doggers, Peter (7 tháng 9 2009). "Magnus Carlsen: 'My job is to improve my chess'". ChessVibes. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Peterson, Macauley (7 tháng 9 2009). "Carlsen, Kasparov Team Up". The Internet Chess Club. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Breaking news: Carlsen and Kasparov join forces". ChessBase News; translated from the Norwegian newspaper VG Nett. 7 tháng 9 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - 1 2 Harrell, Eben (25 tháng 12 2009). "Magnus Carlsen: The 19-Year-Old King of Chess". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Valaker, Ole (26 tháng 1 2010). "Så tapte Magnus" (bằng tiếng Na Uy). Nettavisen. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Valaker, Ole (31 tháng 1 2010). "Magnus vant thrillerfinale" (bằng tiếng Na Uy). Nettavisen. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|accessdate=và|access-date=(trợ giúp) - 1 2 Barden, Leonard (ngày 13 tháng 3 năm 2010). "World No1 Magnus Carlsen parts company with mentor Garry Kasparov". The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013.
- ↑ "Magnus Carlsen on his chess career". ChessBase News. 15 tháng 3 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - 1 2 "Magnus Carlsen – 'I don't quite fit into the usual schemes'". ChessBase News. 22 tháng 12 2011. Truy cập 9 tháng 9 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Lubin, Gus (4 tháng 9 2012). "An Evening With Magnus Carlsen". Business Insider. Truy cập 9 tháng 9 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Amber: Carlsen and Ivanchuk win 19th Amber". ChessBase News. 26 tháng 3 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Chess News – Anand in Playchess – the helpers in Sofia". ChessBase News. 19 tháng 5 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Rogozenco, Dorian (ngày 25 tháng 6 năm 2010). "Medias R10: Magnus Carlsen wins with two-point lead". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Arctic Securities Rapid: Carlsen gets "hammered", reaches final". ChessBase News. ngày 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Carlsen beats Anand, wins Arctic Securities Rapid". ChessBase News. ngày 31 tháng 8 năm 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Team-Composition for federation NOR – Open". Chess Results. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Standings; World Chess Olympiad 2010 Khanty-Mansiysk; Всемирная Шахматная Олимпиада Ханты-Мансийск". Ugra-chess. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Final Chess Masters 2010 in Shanghai and Bilbao". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Crowther, Mark (8 tháng 9 2010). "Shanghai Masters 2010". The Week in Chess. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Valaker, Ole (15 tháng 10 2010). "Magnus endte på 3. plass" (bằng tiếng Na Uy). Nettavisen. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|accessdate=và|access-date=(trợ giúp) - ↑ Brenne, Øyvind (11 tháng 10 2010). "Bekymret for Sjakk-Carlsen etter "ikke-sportslig styr"" (bằng tiếng Na Uy). Verdens Gang. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Carlsen, Magnus (16 tháng 10 2010). "Magnus Carlsen's Blog". Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Nanjing Super Chess Tournament 2010 (updated)". Previews.chessdom.com. 30 tháng 10 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2017. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Nanjing R10: Magnus wins with 2900+ performance". ChessBase News. 30 tháng 10 2010. Truy cập 5 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Aronian wins World Blitz Championship". ChessBase News. 18 tháng 11 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Peterson, Macauley (8 tháng 12 2010). "Nakamura – Carlsen, Private Blitz Match". United States Chess Federation. Truy cập 16 tháng 12 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "NIC's Café". New In Chess. Số 1. 2011. tr. 6.
- ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). "London is Carlsen's call". New In Chess. Số 1. tr. 10–29.
- ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). "Class of 2011". New In Chess. Số 2. tr. 11–37.
- ↑ "Top 100 Players Tháng 3 2011 – Archive". FIDE. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Media Kings Rd10: Carlsen–Karjakin draw, Carlsen wins Medias 2011". ChessBase News. ngày 21 tháng 6 năm 2011. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Bilbao Masters – Carlsen takes first after blitz tiebreak". ChessBase News. 12 tháng 10 2011. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Carlsen catches Aronian in last round, wins Tal Memorial on tiebreak". ChessVibes. 25 tháng 11 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Sjakk-Carlsen har aldri vært bedre" (bằng tiếng Na Uy). Verdens Gang. 12 tháng 12 2011. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Wijk aan Zee Rd13: Aronian is sole winner!". ChessBase News. 29 tháng 1 2012. Truy cập 5 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Tal Memorial Rd9 – Carlsen takes title in record event". ChessBase News. ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "45th Biel Chess Festival 2012". The Week in Chess. 2 tháng 8 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Bilbao Rd10: Carlsen takes title in blitz tiebreak". ChessBase News. 13 tháng 10 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Second Gran Fiesta UNAM with Carlsen and Polgar". ChessBase News. 24 tháng 11 2012. Truy cập 26 tháng 11 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "2nd UNAM won by Magnus Carlsen". ChessBase News. 26 tháng 11 2012. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - 1 2 3 Crowther, Mark (ngày 10 tháng 12 năm 2012). "Carlsen wins London Chess Classic and takes Kasparov's record". The Week in Chess. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012.
- 1 2 "Carlsen beats Kasparov's rating record in London". Chessvibes. 8 tháng 12 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "LCC R9: Carlsen first, Kramnik second, both with big wins". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Tata R13: Karjakin, Wang score, Carlsen wins Wijk by 1½ points". ChessBase News. 27 tháng 1 2013. Truy cập 27 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Nielsen switches from Anand to Carlsen". ChessBase News. 31 tháng 1 2013. Truy cập 5 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Ramírez, Alejandro (1 tháng 4 2013). "Candidates R14 – leaders lose, Carlsen qualifies". ChessBase News. Truy cập 1 tháng 4 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Sergey Karjakin wins Norway Chess 2013". ChessBase News. 18 tháng 5 2013. Truy cập 18 tháng 5 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Tal Final: Gelfand wins, Carlsen clear second". Chessbase News. ngày 23 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 29 tháng 6 năm 2013). "Carlsen beats Predojevic with (only) 2.5-1.5". ChessVibes. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập 11 tháng 7 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Sinquefield 06: Magic Magnus Swindles". ChessBase News. 15 tháng 9 2013. Truy cập 16 tháng 9 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Zurich Chess Challenge 2014". ChessDom. ngày 19 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2014.
- ↑ Aas, Odd Inge; Staveli, Marius (ngày 22 tháng 3 năm 2014). "Magnus Carlsen sjokkerte med opprykkskamp i norsk 1. divisjon" (bằng tiếng Na Uy). Stavanger Aftenblad. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014.
- ↑ Ramírez, Alejandro (ngày 30 tháng 3 năm 2014). "Gashimov R10: From Fool to King". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
- ↑ Bakkehaug, Wegard (ngày 8 tháng 5 năm 2014). "Carlsen-remis mot Norge: – Dere måtte bruke Houdini for å ha en sjanse" (bằng tiếng Na Uy). VG. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
- ↑ "Norway Chess 2014 – Six Players Announced". ChessDom. ngày 22 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014.
- ↑ "World Rapid: Miraculous Carlsen". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ":8" - ↑ Leonard Barden. "Magnus Carlsen clinches triple crown with world blitz title win". The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "41st Olympiad Tromso 2014 Open". chess-results.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2014.
- ↑ Ramirez A (ngày 7 tháng 9 năm 2014). "Sinquefield 10: Draws end magnificent event". Chess News. Chessbase News. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014.
- ↑ Silver, Albert (ngày 21 tháng 11 năm 2014). "Sochi G10: Unrealized opportunities". ChessBase News. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014.
- ↑ Hystad, Joar; Hansen, Erle Marki (ngày 25 tháng 1 năm 2015). "Carlsen vant Tata Steel etter remis mot Saric" (bằng tiếng Na Uy). TV2. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "Tata Steel Masters (2015)". Chessgames.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Ramirez, Alejandro (ngày 10 tháng 2 năm 2015). "GRENKE Final: Carlsen wins in Armageddon!". Chessbase News. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
- ↑ McGourty, Colin (ngày 28 tháng 4 năm 2015). "Shamkir Chess 2015: Winners and losers". Chess24. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Ramirez, Alejandro (ngày 16 tháng 6 năm 2016). "Norway 01: Spectacular Round!". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Norway Chess 2015". Chessbomb.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Pein, Malcolm (ngày 26 tháng 6 năm 2015). "Hammer blow for Magnus Carlsen as Topalov wins Norway Chess". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Ramirez, Alejandro (ngày 2 tháng 9 năm 2015). "Sinquefield 09: Aronian wins tournament". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "FIDE World Championships 2015". WorldChess.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
- ↑ "Chess Live Ratings". 2700chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015.
- ↑ Silver, Albert (ngày 14 tháng 10 năm 2015). "World Blitz 2015: Grischuk wins third title". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Silver, Albert (ngày 24 tháng 11 năm 2015). "ETCC R09: Russia triumphs with double gold". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Kavalek, Lubomir (ngày 19 tháng 12 năm 2015). "Carlsen Wins Grand Chess Tour". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Silver, Albert (ngày 29 tháng 12 năm 2015). "Qatar 2015 Rd9: Carlsen takes title in thrilling final round". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Silver A. (ngày 31 tháng 1 năm 2016). "Tata Steel Rd13: Magnus Carlsen wins fifth title". ChessBase News. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016.
- ↑ Schulz, André (ngày 29 tháng 4 năm 2016). "Carlsen wins Norway Chess". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Doggers (PeterDoggers), Peter (ngày 22 tháng 6 năm 2016). "Magnus Carlsen Cruises To Victory In Leuven". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
- ↑ "The Week in Chess 1128". theweekinchess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Schulz, André (ngày 22 tháng 7 năm 2016). "Bilbao, Rd. 9: Carlsen beats Giri and wins tournament". Chess News. ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "42nd Olympiad Baku 2016 Open". chess-results.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016.
- ↑ Silver, Albert (ngày 28 tháng 10 năm 2016). "Carlsen beats Nakamura in 3-hour blitz battle". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 29 tháng 12 năm 2016). "Ivanchuk Wins World Rapid Championship". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 31 tháng 12 năm 2016). "Karjakin Wins World Blitz Championship". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "Kavalek on Huffington: Chess Champions and Their Queens (1)". Chess News (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ McGourty, Colin (ngày 22 tháng 1 năm 2017). "Tata Steel 2017, 7: Magnus' most embarrassing moment?". Chess24. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Ramirez, Alejandro (ngày 29 tháng 1 năm 2017). "2017 Tata Rd13: Deserved Winner". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Moradiabadi, Elshan (ngày 23 tháng 4 năm 2017). "Grenke Classic 2017: Aronian misses win in exciting finale". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Yermolinsky, Alex (ngày 16 tháng 6 năm 2017). "Levon Aronian wins Norway Chess 2017!". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Yermolinsky, Alex (ngày 26 tháng 6 năm 2017). "Magnus Carlsen wins Grand Chess Tour – Paris in exciting finish". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
- ↑ Yermolinsky, Alex (ngày 2 tháng 7 năm 2017). "Grand Chess Tour – Leuven Express: Magnus Carlsen runs away with event". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Kasparov, Garry (ngày 2 tháng 7 năm 2017). "Garry Kasparov on Twitter". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
Phenomenal performance by Magnus. As I said during the round, it looked like everyone else was playing blitz while he was playing chess!
- 1 2 Barden, Leonard (ngày 7 tháng 7 năm 2017). "Magnus Carlsen blitzes the field with record-breaking display in Belgium". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017.
- ↑ Yermolinsky, Alex (ngày 3 tháng 7 năm 2017). "Magnus Carlsen wins Leuven with three-point lead". Chess News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 11 tháng 8 năm 2017). "Sinquefield Cup: MVL WINS!". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 11 tháng 8 năm 2017). "2017 Tour Standings". Grand Chess Tour. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 24 tháng 7 năm 2017). "Magnus Carlsen To Play FIDE World Cup". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 15 tháng 9 năm 2017). "Cull of the grandmasters as World Cup quarter-final line-up is completed". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Klein, Mike (ngày 1 tháng 10 năm 2017). "Carlsen Wins 2017 Chess.com Isle of Man International". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 6 tháng 10 năm 2017). "Magnus Carlsen extends gap at top of world rankings with Isle of Man win". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2017.
- ↑ "2017 Champions Showdown – Day 6". uschesschamps.com. ngày 14 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Carlsen vs. Ding Liren – Champions Showdown 2017". chess24.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Peterson, Macauley (ngày 12 tháng 12 năm 2017). "Caruana wins London Classic, but Carlsen takes the Tour". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 28 tháng 12 năm 2017). "FINAL Standings Rapid OPEN". FIDE. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 29 tháng 12 năm 2017). "Veteran Vishy Anand secures surprise title at world rapids in Riyadh". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 30 tháng 12 năm 2017). "Carlsen and Dzagnidze are World Blitz Champions!". FIDE. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2017.
- ↑ Svensen (TarjeiJS), Tarjei J. (ngày 19 tháng 6 năm 2025). "Magnus Carlsen Hits 2900 As Freestyle Chess Introduces New Ratings". Chess.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "2018 Speed Chess Championship Official Schedule, Players, Prizes, Information". chess.com. ngày 3 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018.
- ↑ Crowther, Mark (ngày 4 tháng 1 năm 2018). "Chess.com Speed Chess Championship 2017". The Week in Chess. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018.
- 1 2 Barden, Leonard (ngày 2 tháng 2 năm 2018). "Magnus Carlsen storms back into form with Wijk aan Zee victory". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 13 tháng 2 năm 2018). "Fischer Random 2018". Fischer Random Chess. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 13 tháng 2 năm 2018). "Carlsen Wins Fischer Random Chess Championship". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
- ↑ Staff writer(s) (ngày 9 tháng 4 năm 2018). "GRENKE Chess Classic 2018: Pairings & standings". Grenke Chess. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 28 tháng 4 năm 2018). "Carlsen Wins Shamkir Chess After Quick Draw With Ding". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 7 tháng 6 năm 2018). "Caruana Wins Norway Chess". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 1 tháng 8 năm 2018). "Carlsen Finishes 2nd Behind Mamedyarov in Biel". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Saravanan, Venkatachalam (ngày 28 tháng 8 năm 2018). "Sinquefield Cup: Three winners (one playoff)!". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 19 tháng 10 năm 2018). "European Chess Club Cup: St Petersburg, Monaco Take Titles". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 28 tháng 12 năm 2018). "Magnus Carlsen pays for poor start as Daniil Dubov wins World Rapid Chess". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019.
- ↑ McGourty, Colin (ngày 31 tháng 12 năm 2018). "Carlsen & Lagno end 2018 as World Blitz Champions". Chess24. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019.
- ↑ Sean Ingle (ngày 28 tháng 11 năm 2018). "Magnus Carlsen beats Caruana in tie-breakers to retain World Chess crown". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- 1 2 Staff writer(s) (ngày 27 tháng 1 năm 2019). "Tata Steel Chess – Round 13 Round-up". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2019.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 12 tháng 4 năm 2019). "Chess: Magnus Carlsen dominates in Shamkir with two-point victory margin". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Carlsen caps stunning Shamkir by beating Grischuk". chess24.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019.
- ↑ "Shamkir, Round 9: Magnus makes it five". Chess News (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019.
- ↑ "Year of the GOAT? 7 Conclusions from GRENKE 2019". chess24.com (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 30 tháng 4 năm 2019). "Carlsen Wins Grenke Chess Classic, Reaches 2875 Rating". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019.
- ↑ Parodi, Alessandro (ngày 13 tháng 5 năm 2019). "Carlsen Wins Côte d'Ivoire Rapid & Blitz". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 27 tháng 5 năm 2019). "Carlsen Wins Rapid Tournament Held In Scottish Whisky Distillery". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 14 tháng 6 năm 2019). "Chess: Carlsen takes Armageddon route to Altibox Norway victory". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2019.
- ↑ Pereira, Antonio (ngày 8 tháng 7 năm 2019). "Zagreb GCT: Carlsen amazes with yet another triumph". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "2019 Saint Louis Rapid & Blitz – Day 5 Recap". Grand Chess Tour. ngày 14 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 30 tháng 8 năm 2019). "Ding Beats Carlsen In Playoff To Win Sinquefield Cup". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Overvik, Jostein; Strøm, Ole Kristian (ngày 21 tháng 10 năm 2019). "Magnus Carlsen satte verdensrekord: 101 partier uten tap". Verdens Gang (bằng tiếng Na Uy). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2019.
- ↑ Tisdall (JonathanTisdall), Jonathan (ngày 3 tháng 11 năm 2019). "Wesley So Becomes First World Fischer Random Chess Champion". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Tata Steel Chess: Carlsen strides to title, heartbreak for Anand". ngày 26 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Vachier-Lagrave, Ding Reach Grand Chess Tour Final". Chess.com. ngày 4 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Doggers (PeterDoggers), Peter (ngày 8 tháng 12 năm 2019). "Ding Liren Wins 2019 Grand Chess Tour". Chess.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Carlsen and Humpy are World Rapid Champions". Chess News (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Magnus wins World Blitz to complete triple crown". chess24.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Barden, Leonard (ngày 3 tháng 1 năm 2020). "Chess: Carlsen wins speed titles after controversial game with rising star". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Alberto Colodro, Carlos (ngày 27 tháng 1 năm 2020). "Tata Steel Chess: Caruana ends with a win, Anton clinches Challengers". Chessbase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Tata Steel Chess: Carlsen Sets Unbeaten Record". Chess.com. ngày 15 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Magnus Carlsen Invitational 2020 | The Week in Chess". Theweekinchess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 3 tháng 5 năm 2020). "Magnus Carlsen Wins Magnus Carlsen Invitational". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2020.
- 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "duda" - ↑ "Jan-Krzysztof Duda vs Magnus Carlsen (2020) Duda Victory Dance". www.chessgames.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2020.
- ↑ Svensen (TarjeiJS), Tarjei J. (ngày 16 tháng 2 năm 2024). "The 7 Most Mindblowing Magnus Carlsen Records". Chess.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 16 tháng 10 năm 2020). "Carlsen Wins Norway Chess With Round To Spare As Firouzja Blunders In Pawn Endgame". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Colodro, Carlos Alberto (ngày 17 tháng 10 năm 2020). "Norway Chess: Aronian beats Carlsen, Firouzja secures second place". ChessBase. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2021.
- ↑ "Tata Steel 8: Esipenko crushes Carlsen | Firouzja top". chess24.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Esipenko scores a thumping victory over Carlsen in Tata Steel Round 8 Lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2021 tại Wayback Machine, The Week in Chess, 24 January 2021
- ↑ Doggers, Peter (ngày 25 tháng 1 năm 2021). "Tata Steel Chess 2021: Esipenko Shocks Carlsen as Firouzja Grabs Sole Lead". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Jan-Krzysztof Duda wins the 2021 World Cup". Worldcup.fide.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Norway Chess – Carlsen takes first place". Chess News (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Vachier-Lagrave and Assaubayeva are the 2021 World Blitz Champions". Chess News (bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Graham, Bryan Armen (ngày 3 tháng 12 năm 2021). "Magnus Carlsen defeats Ian Nepomniachtchi in Game 6 of World Chess Championship – as it happened". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
- ↑ McGourtey, Colin (ngày 5 tháng 12 năm 2021). "Magnus Carlsen wins 5th World Championship title". chess 24 (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2021.
- ↑ Doggers, Peter (ngày 14 tháng 12 năm 2021). "Carlsen might only defend title vs Firouzja". chess 24 (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "World Champion Carlsen wins Tata Steel Chess Tournament 2022". ngày 30 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2022.
- 1 2 "Norway Chess - Final Standings". norwaychess.no. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2022.
- ↑ Colodro, Carlos Alberto (ngày 11 tháng 6 năm 2022). "Magnus Carlsen wins Norway Chess for a fourth straight time". Chess News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Mather, Victor (ngày 20 tháng 7 năm 2022). "Lacking Motivation, Magnus Carlsen Will Give Up World Chess Title". The New York Times. ISSN 1553-8095. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Annabelle Timsit (ngày 21 tháng 7 năm 2022). "World chess champion to give up title because he's just 'not motivated'". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.
- ↑ "Magnus Carlsen to give up World Championship title". Chess24.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
- 1 2 Pahwa, Nitish (ngày 2 tháng 9 năm 2022). "The Best Chess Player Alive Can't Wait to "Show That I'm Better Than the Younger Generation"". Slate Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Doggers (PeterDoggers), Peter (ngày 27 tháng 3 năm 2022). "Carlsen Wins 2022 Charity Cup". Chess.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Magnus Carlsen clinches FTX Crypto Cup". FIDE (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Speed Chess Championship Main Event 2022 Lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2022 tại Wayback Machine, chess.com
- ↑ Ahmed, Shahid (ngày 31 tháng 12 năm 2022). "Magnus Carlsen and Bibisara Assaubayeva are the World Blitz 2022 champions". Chess News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Hansen, Carsten (ngày 4 tháng 9 năm 2022). "Niemann Outplays Carlsen, Claims Lead, Crosses 2700". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Sinquefield Cup 3: Niemann beats Carlsen to cross 2700". chess24.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Magnus Carlsen withdraws from the Sinquefield Cup". chess24 (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2022.
- 1 2 3 West (NM_Vanessa), Vanessa (ngày 5 tháng 9 năm 2022). "Magnus Carlsen Withdraws From Sinquefield Cup". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Keener, Greg (ngày 13 tháng 9 năm 2022). "The Chess World Isn't Ready for a Cheating Scandal". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Porterfield, Carlie (ngày 19 tháng 9 năm 2022). "World chess champion Magnus Carlsen resigns from match after just one move against player at center of 'cheating' scandal". Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Robinson, Andrew Beaton and Joshua (ngày 26 tháng 9 năm 2022). "Magnus Carlsen Breaks His Silence on Chess Cheating Scandal". The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). ISSN 0099-9660. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Docket for Niemann v. Carlsen, 4:22-cv-01110 - CourtListener.com". CourtListener (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Beaton, Andrew; Robinson, Joshua (ngày 20 tháng 10 năm 2022). "Hans Niemann Files $100 Million Lawsuit Against Magnus Carlsen, Chess.com Over Cheating Allegations". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Armstrong, Kathryn (ngày 28 tháng 6 năm 2023). "Chess player Hans Niemann's $100m lawsuit over cheating claims dismissed". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2023.
- ↑ Svensen, Tarjei (ngày 14 tháng 12 năm 2023). "Carlsen Not Guilty On 3/4 Counts In Niemann Ruling, Fined €10,000 For Withdrawal". Chess.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Decision on the Magnus Carlsen / Hans Niemann case". FIDE (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
- ↑ McGourty, Colin (ngày 29 tháng 1 năm 2023). "Tata Steel 12: Abdusattorov on brink as Carlsen misses win". Chess24. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2023.
- ↑ Colin McGourty (ngày 29 tháng 1 năm 2023). "Anish Giri wins his 1st Tata Steel Masters". chess24.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Carlsen On Lack Of Motivation, Classical Chess, New WC Formats & Family Life". chess.com. ngày 2 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2023.
- 1 2 Ben Morse (ngày 24 tháng 8 năm 2023). "Magnus Carlsen defeats Rameshbabu Praggnanandhaa to become Chess World Cup champion". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "Chess: Magnus Carlsen beats India's Praggnanandhaa to win FIDE World Cup". Al Jazeera English. ngày 24 tháng 8 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
- ↑ West, Vanessa (ngày 4 tháng 9 năm 2023). "Triumph On A Choppy Day: Carlsen Defeats Firouzja Again". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.
- ↑ Kelemen, Luci (ngày 22 tháng 9 năm 2023). "Magnus Carlsen's double rook sacrifice denies Hikaru's sixth SCC title in a row". Dot Esports (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.
- ↑ Levin, Anthony (ngày 16 tháng 12 năm 2023). "Carlsen Wins 3rd Title At 2023 Champions Chess Tour Finals". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Saravanan (VSaravanan), Venkatachalam (ngày 30 tháng 12 năm 2023). "6-Win Streak Helps Carlsen To Take 7th Title; Gunina Pips Kosteniuk To The Post". Chess.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ":3" - ↑ "Chess Oscar winner Carlsen to be tested for doping". ChessBase News. 6 tháng 11 2011. Truy cập 16 tháng 12 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Carlsen Gets His 4th Chess Oscar: 'I Think It's Well-Deserved'". chess-news.ru. ngày 13 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013.
- ↑ Strøm, Kristian Ole (19 tháng 12 2009). ""Sjakkens Mozart" ble årets navn" ["Mozart of Chess" became the name]. Verdens Gang. Truy cập 15 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Øyvind Askeland and Knut Arne Hansen (20 Tháng 12 2013) Magnus Carlsen kåret til Årets navn VG. Truy cập 21 Tháng 12 2013 (bằng tiếng Na Uy)
- ↑ Strøm, Kristian Ole (24 tháng 12 2009). "Magnus (19) er landets største idrettsstjerne!...men Carlsen skulle gjerne vært best i verden i fotball" [Magnus (19) is the country's biggest sports star!... but Carlsen would like to be best in soccer]. Verdens Gang. Truy cập 15 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Skjervum, Eivind (24 tháng 12 2009). "Magnus Carlsen (19) suveren vinner av Folkets Idrettspris" [Magnus Carlsen (19) clear winner of People's Sports Prize]. Dagbladet. Truy cập 15 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Chess star wins prestigious award". Views and News from Norway. 21 tháng 3 2011. Truy cập 16 tháng 12 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp)[liên kết hỏng] - ↑ Kvam, Lars Hojem (24 tháng 12 2012). "Magnus Carlsen fikk flere stemmer enn de tre neste til sammen" [Magnus Carlsen got more votes than the next three in comparison]. Dagbladet. Truy cập 15 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Kasparov, Garry (18 tháng 4 2013). "The 2013 TIME 100: Magnus Carlsen". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2014.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|accessdate=và|access-date=(trợ giúp) - ↑ Barden, Leonard (28 tháng 1 2006). "Chess: Barden on chess | Sport". The Guardian. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Pein, Malcolm. "Dangers of over-optimism". The Daily Telegraph. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Agdestein (2004), p. 45.
- ↑ Grønn, Atle (27 tháng 2 2009). "Magnus Carlsens system" (bằng tiếng Na Uy). Dagsavisen. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 7 2011. Truy cập 29 tháng 11 2010.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=,|date=và|archive-date=(trợ giúp) - ↑ "Chess Opening Explorer". Chessgames.com. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2013). "2871, but not here yet". New In Chess. Số 2. tr. 12.
- ↑ Timman, Jan (2012). "Is modern-day chess really all about preparation?". New In Chess. Số 5. tr. 98–101.
- ↑ "Kasparov on coaching Carlsen". Chessvibes. 11 tháng 9 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Kasparov, Garry (17 tháng 11 2013). "Kasparov63: Carlsen is a combination of..." Twitter. Truy cập 19 tháng 11 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Anand's WhyChess interview". Chess in Translation. 10 tháng 5 2012. Truy cập 2 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Mishanp (9 tháng 1 2011). "Kasparov's verdict on Carlsen's withdrawal". Chessintranslation.com. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2012). "Vladimir Kramnik: 'I like playing chess now probably more than ever'". New In Chess. Số 1. tr. 32–41.
- ↑ Keene, Raymond (ngày 29 tháng 6 năm 2012). "June 29: Today's Game, Winning Move". The Times. (yêu cầu đăng ký)
- ↑ "Chess News – CBM training: Carlsen in Capablanca's footsteps". ChessBase News. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Lubomir Kavalek: Magnus Carlsen Storms New York's Chess Scene". Huffington Post. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Mark Crowther (ngày 14 tháng 6 năm 2012). "Morozevich beats Aronian and Carlsen beats Radjabov in Tal Memorial Round 5 | The Week in Chess". Chess.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Speelman, Jon (2013). "Carlsen's Endgame Magic". New In Chess. Số 1. tr. 33–41.
- ↑ von Kietz, Michael (12 tháng 2 2013). "Carlsen's Conquests – at 22 he has broken all records". ChessBase News. Truy cập 12 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Anand tops the Tháng 7 2007 FIDE ratings". ChessBase News. 3 tháng 7 2007. Truy cập 5 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Bilbao R4: Topalov topples Anand, Carlsen #1 in the world". ChessBase News. 5 tháng 9 2008. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Live Rating on 5 Sep 2008". Chess.liverating.org. 17 tháng 8 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2013. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Dad Carlsen – This has been a dream". Google. Truy cập 31 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "FIDE ratings: Anand now number one". ChessBase News. 1 tháng 11 2010. Truy cập 6 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Kramnik wins Tal Memorial 2009, Carlsen number one". ChessBase News. 14 tháng 11 2009. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus Carlsen: Individual Calculations Tháng 1 2010". FIDE. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập 31 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ "Norwegian Carlsen is youngest to top chess rankings". AFP. 1 tháng 1 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập 16 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Moskwa, Wojciech (30 tháng 12 2009). "Norwegian teenager to be crowned new chess king". Reuters. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Harell, Ebden (11 tháng 1 2010). "A Bold Opening for Kỳ thủ Magnus Carlsen". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2013. Truy cập 31 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Chess Games". Chessgames.com. 1 tháng 1 2010. Truy cập 22 tháng 11 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Top 100 Players Tháng 1 2004 FIDE Top players archive". FIDE. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập 27 tháng 5 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Barden, Leonard (19 tháng 1 2008). "Obituary: Bobbie [sic] Fischer". The Guardian. Truy cập 4 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2009). "Alexey Shirov back on board". New In Chess. Số 4. tr. 17.
- ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). "Magnus Carlsen perseveres and prevails in Pashkov House". New In Chess. Số 8. tr. 23.
- ↑ "NIC's Café". New In Chess. Số 1. 2013. tr. 7.
- ↑ "Magnus Carlsen's new career: fashion model!". ChessBase News. 7 tháng 7 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus pounds The World in RAW Chess Challenge". ChessBase News. 12 tháng 9 2010. Truy cập 3 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus couldn't make it to Star Trek 2". ChessBase News. 11 tháng 4 2012. Truy cập 3 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Mozart of Chess – Magnus Carlsen on CBS 60 Minutes". ChessBase News. 20 tháng 2 2012. Truy cập 8 tháng 1 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Magnus Carlsen defeats Stephen Colbert 2-0". ChessBase News. 25 tháng 4 2012. Truy cập 8 tháng 1 2012.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "SoulPancake interview with Magnus Carlsen". ChessBase News. 7 tháng 2 2013. Truy cập 7 tháng 2 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "The sexiest men of 2013". Cosmopolitan. 25 tháng 3 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2014. Truy cập 11 tháng 4 2013.
{{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Nordic Semiconductor ASA: Magnus Carlsen, the best player in chess history, becomes an ambassador for Nordic Semiconductor in three-year sponsorship deal..." 4-traders.com. 13 tháng 8 2013. Truy cập 17 tháng 8 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Agdestein, Espen FIDE Chess Profile". FIDE. Truy cập 10 tháng 9 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=(trợ giúp) - ↑ Geuzendam, Dirk Jan ten (2012). "Interview: Managing Magnus". New In Chess. Số 5. tr. 44–48.
- ↑ Lyall, Sarah (8 tháng 4 2013). "Shrewd marketing moves for top-ranked chess player". The New York Times. Truy cập 8 tháng 4 2013.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ Doggers, Peter (17 tháng 2 2014). "Magnus Carlsen's YouTube Channel And New G-Star Campaign Video". Chess.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2015. Truy cập 17 tháng 2 2014.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|accessdate=và|date=(trợ giúp) - ↑ The Prince of Chess trên Internet Movie Database
- "Magnus Carlsen wins the tiebreak and holds the title of the World Champion (Magnus Carlsen thắng tiebreak và giữ danh hiệu vô địch thế giới)". FIDE. ngày 29 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2018. Bản mẫu:En
<ref> có tên "fide1" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.Nguồn
[sửa | sửa mã nguồn]- Agdestein, Simen (2004). Wonderboy: How Magnus Carlsen Became the Youngest Chess Grandmaster in the World. Interchess. ISBN 90-5691-131-7.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Các ván đấu của Magnus Carlsen lưu trên ChessGames.com
- Website chính thức
- Blog chính thức:
- Magnus Carlsen trên Twitter/X
- Magnus Carlsen trên IMDb
- Edward Winter's "Sách về Anand, Carlsen, Gelfand, Kramnik và Topalov" (Chess Notes Feature Article)
- Bill Gates nhanh chóng thua kỳ thủ số 1 thế giới| The Verge—The Verge (24 Tháng 1 2014)
- Chessgraphs.com rating history for Magnus Carlsen, graphed in comparison to other top chess players