Bước tới nội dung

Cóc núi tiểu yêu tinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ophryophryne elfina
Cóc núi tiểu yêu tinh
Mẫu vật điển hình của Ophryophryne elfina khi còn sống
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Amphibia
Bộ: Anura
Họ: Megophryidae
Chi: Ophryophryne
Loài:
O. elfina
Danh pháp hai phần
Ophryophryne elfina
Nikolay A. Poyarkov Jr., Tang Van Duong, Nikolai L. Orlov, Svetlana S. Gogoleva, Anna B. Vassilieva, Luan Thanh Nguyen, Vu Dang Hoang Nguyen, Sang Ngoc Nguyen, Jing Che, Stephen Mahony

Cóc núi tiểu yêu tinh (tên khoa học Ophryophryne elfina) là một loài động vật lưỡng cư đặc hữu thuộc họ Cóc bùn (Megophryidae), được mô tả khoa học năm 2017 từ các mẫu vật thu thập tại miền nam Việt Nam. Loài được ghi nhận tại các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk và Khánh Hòa.[1]

Phát hiện và từ nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên định danh loài elfina được các tác giả giải thích là bắt nguồn từ "elf" trong tiếng Anh (bắt nguồn từ từ tiếng Latinh "alfus"), chỉ các sinh vật huyền bí/tinh linh thường sống trong rừng theo thần thoại và dân gian Bắc Âu/Đức, gợi liên tưởng đến vóc dáng nhỏ bé cùng diện mạo đặc trưng của loài cóc này (có nốt sần nhỏ nhô cao trên mắt giống đôi tai yêu tinh), đồng thời liên hệ với sinh cảnh rừng thường xanh núi cao ẩm ướt trên Cao nguyên Langbian, thường được gọi là rừng elfin.[1]

Dựa trên các đặc điểm hình thái chẩn đoán đặc trưng (như kích thước cơ thể nhỏ, cấu trúc da, nốt sần hình sừng trên mắt, màng chân...), cấu trúc và đặc tính tín hiệu tiếng kêu gọi bạn tình của con đực (tần số, chu kỳ lặp, nhịp điệu âm thanh), O. elfina khác biệt rõ rệt với tất cả các loài cùng chi có dữ liệu trình tự tương ứng. Về mặt di truyền, O. elfina là một dòng tiến hóa phân hóa mạnh, với khoảng cách di truyền chưa hiệu chỉnh trên gen ty thể 16S rRNA lớn hơn 8,2% so với các loài được so sánh. Điều này cho thấy các cá thể chi Ophryophryne phát hiện ở vùng núi từ trung bình đến cao thuộc Cao nguyên Langbiang là một loài chưa từng được mô tả. Tên phổ biến được đề xuất trong tiếng Anh là “Elfin Mountain Toad”. Tên thông dụng được gợi ý trong tiếng Việt là “Cóc núi tiểu yêu tinh”. Nghiên cứu năm 2017 xác định cao nguyên Langbian là một trong những trung tâm đa dạng của chi Ophryophryne, nơi O. elfina cùng xuất hiện với O. gerti và O. synoria ở một số khu vực.[1]

Mẫu chuẩn (holotype) được thu tại sườn phía bắc núi Chư Pan Fan, Vườn quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk, ở độ cao 1.725 m, dọc một con suối trong rừng thường xanh nhiệt đới hỗn giao. Mẫu chuẩn được lưu giữ tại Bảo tàng Động vật học Đại học Quốc gia Moskva (ZMMU A-5669).[2][1]

Phân loại

[sửa | sửa mã nguồn]
G. và H.: Mẫu vật O. elfina đực trong tự nhiên thu thập tại núi Chư Yang Sin, VQG Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk và thu thập tại núi Hòn Giao, VQG Bidoup – Núi Bà (vùng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Khánh Hòa), cả 2 ở độ cao 2.000 m.
Ảnh: Nikolay A. Poyarkov và Nikolai L. Orlov.

IUCN xếp cóc núi tiểu yêu tinh vào chi Megophrys[3] trong khi Amphibian Species of the World (AMNH) xếp chúng vào chi Ophryophryne,[2] còn ITIS xếp chúng vào chi Ophryophryne nhưng coi Megophrys elfina là danh pháp đồng nghĩa.[4]

Việc xếp O. elfina vào chi Ophryophryne dựa trên sự kết hợp giữa đặc điểm hình thái và bằng chứng phân tử:[1]

  1. Có ngoại hình và đặc điểm cấu trúc cơ thể tương đồng với các loài chị em trong chi Ophryophryne
  2. Phân tích phát sinh chủng loại phân tử đặt O. elfina trong chi Ophryophryne.
  3. Không có răng hàm trên (maxillary teeth), một đặc điểm được sử dụng trong chẩn đoán chi Ophryophryne.

Theo quan điểm cũ (e.g., Ohler 2003, Delorme et al. 2006, Fei et al. 2009) thì ngoài việc không có răng hàm trên, chi Ophryophryne còn được chẩn đoán bởi 2 đặc điểm bắt buộc:[1]

  1. Con ngươi mắt nằm ngang (horizontal pupil).
  2. Không có răng lá mía / răng vòm miệng (absence of vomerine teeth).

Quan điểm cập nhật (Mahony et al. 2017): Nghiên cứu của Mahony và cộng sự (2017) đã tái xem xét lại các tiêu chí này, cho thấy hai đặc điểm trên (con ngươi ngang và vắng mặt răng lá mía) không còn được coi là tiêu chuẩn chẩn đoán tuyệt đối cho toàn bộ chi Ophryophryne nữa.

Trước khi được công nhận là một loài riêng, một số mẫu vật thuộc O. elfina từng được xác định là Ophryophryne gerti. O. elfina được phân biệt với các loài gần gũi bằng sự kết hợp của các đặc điểm hình thái (đầu và mõm, kích thước cơ thể nhỏ, gờ tuyến trên lưng) màu sắc, cấu trúc da, tiếng kêu và dữ liệu di truyền.[1]

Miêu tả

[sửa | sửa mã nguồn]
Ảnh thứ 3 là đầu Ophryophryne elfina với nút sần phía trên mắt nhô cao

Con đực trưởng thành cóc núi tiểu yêu tinh có chiều dài từ mõm đến huyệt (SVL) là 26,9–33,9 mm; với kích thước cơ thể này, O. elfina là một trong những loài nhỏ nhất đã từng ghi nhận trong chi Ophryophryne; dáng cơ thể mảnh mai; Tinh hoàn có màu trắng, ở trạng thái phì đại với chiều dài 3,9 mm. Đầu tương đối lớn, độ rộng gần bằng độ dài (chiều rộng bằng 101% chiều dài đầu). Nhìn từ mặt lưng, đầu có dạng hình tam giác; đỉnh đầu bằng phẳng. Mõm tương đối ngắn và hẹp; nhìn từ trên xuống có dạng hơi cụt, nhìn nghiêng nhô mạnh về phía trước nhưng không có gai mõm. Mõm nhô ra vượt xa so với mép hàm dưới. Vùng má hơi lõm; gờ mõm (canthus rostralis) rõ và sắc nét. Mắt to (chiều dài mắt chiếm 44,8% chiều dài đầu), hơi lồi. Đường kính mắt lớn gấp khoảng 1,5 lần chiều dài mõm và lớn gấp gần 2 lần đường kính màng nhĩ; con ngươi dạng hình thoi/kim cương và nằm ngang. Màng nhĩ rõ ràng, dạng gần tròn (đường kính dọc nhỉnh hơn đường kính ngang một chút); khoảng cách từ mắt đến màng nhĩ nhỏ hơn đường kính màng nhĩ. Lỗ mũi bầu dục, nằm dọc và hướng sang bên; khoảng cách từ lỗ mũi đến mắt bằng khoảng cách từ lỗ mũi đến đầu mõm. Không có cả răng hàm trên (maxillary teeth) và răng lá mía (vomerine teeth). Tuy nhiên, vẫn xuất hiện gờ lá mía (vomerine ridges). Túi âm nằm ở vùng họng, các lỗ mở túi âm không phân biệt rõ ràng. Lưỡi tương đối lớn, phần đuôi tự do, không bị xẻ rãnh/khuyết ở phía sau và không có nhú lưỡi giữa (medial lingual process).[1] Ở con cái, SVL dao động từ 35,1 đến 36,5 mm. Các mẫu vật sống thì mặt lưng có màu vàng nâu nhạt, thường mang hoa văn sẫm hình đồng hồ cát, được viền bởi màu trắng hoặc be. Da ở mặt lưng và hai bên đầu, thân và các chi có nhiều nốt sần nhỏ, trong đó nhiều nốt có màu cam-đỏ sáng. Con đực có đệm sinh dục màu đỏ-cam ở ngón thứ nhất của bàn tay.[1] Các ngón tay có công thức F1 < F4 ≤ F2 < F3 hoặc F1 ≤ F2 < F4 < F3; màng giữa các ngón chân chỉ phát triển ở mức rất sơ khai và các ngón chân có công thức T1 < T5 < T2 < T3 < T4 (F viết tắt finger là ngón tay, T viết tắt toe là ngón chân).[1]

Tiếng kêu gọi bạn tình của con đực gồm những âm huýt sáo ngắn phát thành chuỗi. Mỗi chuỗi có trung bình 12,84 tiếng kêu và kéo dài khoảng 3,42 giây; thời lượng mỗi tiếng trung bình 73 mili giây. Tốc độ lặp tiếng kêu của O. elfina nằm giữa O. gerti và O. synoria. So với O. gerti, loài này có nhiều tiếng kêu hơn trong mỗi chuỗi, thời lượng mỗi tiếng ngắn hơn và khoảng cách giữa hai tiếng ngắn hơn. Tần số tại mức biên độ lớn nhất của tiếng kêu O. elfina trung bình khoảng 4.646 Hz, cao hơn O. synoria.[1]

Môi trường sống

[sửa | sửa mã nguồn]
Ba sinh cảnh nơi thu thập mẫu Ophryophryne elfina trên cao nguyên Langbian:
A. Rừng elfin trên đỉnh Bidoup
B. Đỉnh Hòn Giao
C. Suối núi ở sườn bắc Chư Pan Fan, Chư Yang Sin.

Loài được ghi nhận tại các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk và Khánh Hòa ở miền nam Việt Nam. Sinh cảnh của loài gồm rừng thường xanh nhiệt đới trên núi và rừng tiểu yêu tinh elfin forest.[1][2] Các khu rừng này có đặc điểm chung là có lượng mưa rất cao nhận từ phía biển thổi vào. Độ cao ghi nhận loài thay đổi giữa các khu vực. Tại cao nguyên Langbian ở Lâm Đồng và khu vực Chư Pan Fan thuộc Chư Yang Sin ở Đắk Lắk, loài phân bố ở độ cao khoảng 1.900–2.300 m. Ở Hòn Bà và núi Chúa thuộc Khánh Hòa, loài phân bố ở các độ cao thấp hơn, khoảng 780–1.510 m. Tại Phú Yên, loài còn được ghi nhận ở độ cao khoảng 700 m.[1]

Tập tính

[sửa | sửa mã nguồn]
B. và C. là 2 cá thể đực đang kêu gọi giao phối tại Vườn quốc gia Núi Chúa và Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà

Phần lớn mẫu vật cóc núi tiểu yêu tinh được thu thập vào ban đêm sau các trận mưa lớn, dọc theo các dòng suối núi có nhiều đá, thác nước nhỏ hoặc các dòng chảy ngắt quãng trên núi. Vào ban ngày, chúng thường ẩn nấp bên dưới khúc gỗ mục hoặc lẩn sâu trong thảm lá khô trên nền rừng mưa nhiệt đới núi cao.[1]

Cóc núi tiểu yêu tinh có mùa sinh sản khoảng tháng 2, là mùa lạnh/khô ở Tây Nguyên. Nhiệt độ lúc đó chỉ khoảng 11-12℃. Con đực mùa sinh sản thường cất tiếng kêu gọi bạn tình dọc theo các con suối, lúc đậu trên lá cây dương xỉ hoặc bờ đá ven suối. Con cái lúc đó ẩn nấp bên dưới các khúc gỗ mục hoặc lẩn sâu trong thảm lá khô trên nền rừng. Con cái khi mang thai chứa các trứng đã phát triển hoàn chỉnh, không có sắc tố.[1]

Nòng nọc

[sửa | sửa mã nguồn]
Nòng nọc O. elfina với phễu miệng mở rộng hướng lên;
A: nhìn bên, phễu miệng khép;
B: nhìn từ trên, phễu miệng mở
Nòng nọc O. elfina ngoài tự nhiên, với cơ thể nâu đỏ đến nâu cam tương đối đồng nhất, điểm các chấm nhỏ màu đồng;
A: phễu miệng mở;
B: phễu miệng khép.

Nòng nọc O. elfina có cơ thể hơi dẹt theo chiều lưng-bụng, hình bầu dục khi nhìn từ trên; mõm ngắn và tù, mắt nằm ở vị trí bên trên và không nhìn thấy từ phía bụng; lỗ mũi dạng ống hướng sang bên, nằm gần mắt hơn đầu mõm. Đĩa miệng nằm ở vị trí dưới tận cùng và có các môi mở rộng theo chiều dọc tạo thành một phễu hướng lên trên; không có răng sừng. Ở giai đoạn 25, nòng nọc có chiều dài trung bình 28,4 (27,4–30,2) mm; Chiều dài thân: 8,6 mm; Chiều dài đuôi: 19,8 mm (đuôi dài gấp 2,3 lần chiều dài thân). Các nòng nọc sống có cơ thể màu nâu đỏ đến nâu cam tương đối đồng nhất, phần đuôi có các đốm sẫm màu và một số chấm nhỏ màu đồng. Kiểu màu này được các tác giả cho là có giá trị trong việc nhận biết sơ bộ nòng nọc O. elfina so với O. gerti và O. synoria.

Các nòng nọc được quy thuộc O. elfina dựa trên sự kết hợp giữa đặc điểm hình thái, địa điểm thu mẫu trùng với nơi ghi nhận con đực đang phát tiếng kêu và kết quả định danh bằng trình tự một đoạn gen ty thể 16S rRNA (mã GenBank KY515232–KY515233). Gờ miệng nòng nọc không có nhú mép, có các gờ ngắn, thấp (trên có 18–24 hàng gờ dọc (trung bình 22) và 2–4 hàng gờ ngang; dưới có 4–6 (trung bình 5) hàng gờ ngang).

So với nòng nọc O. microstoma, nòng nọc O. elfina có đuôi dài hơn tương đối so với thân và chóp đuôi tròn tù thay vì tù nhọn. Số hàng gờ dọc trên đĩa miệng cũng có sự khác biệt: trung bình 22 hàng ở O. elfina, so với khoảng 20 hàng ở O. microstoma. Nòng nọc O. elfina có màu nâu tương đối đồng nhất với những chấm nhỏ màu đồng, trong khi nòng nọc O. gerti và O. synoria có các đốm màu vàng kim đến màu đồng trên lưng và đuôi. Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng sự khác biệt về hình thái có thể chịu ảnh hưởng của giai đoạn phát triển, bởi các mẫu O. elfina được khảo sát ở giai đoạn 25, còn mô tả của O. microstoma dựa trên nòng nọc ở giai đoạn 37.[1]

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Nikolay A. Poyarkov Jr., Tang Van Duong, Nikolai L. Orlov, Svetlana S. Gogoleva, Anna B. Vassilieva, Luan Thanh Nguyen, Vu Dang Hoang Nguyen, Sang Ngoc Nguyen, Jing Che, Stephen Mahony, 2017 (ngày 3 tháng 5 năm 2017). "Molecular, morphological and acoustic assessment of the genus Ophryophryne (Anura, Megophryidae) from Langbian Plateau, southern Vietnam, with description of a new species". ZooKeys. doi:10.3897/zookeys.672.10624. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2026. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết) Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  2. 1 2 3 Ophryophryne elfina Poyarkov, Duong, Orlov, Gogoleva, Vassilieva, Nguyen, Nguyen, Nguyen, Che, and Mahony, 2017 Darrel Frost and the American Museum of Natural History
  3. ↑ Elfin Mountain Toad Megophrys elfina trên IUCN
  4. ↑ Ophryophryne elfina Poyarkov, Duong, Orlov, Gogoleva, Vassilieva, Nguyen, Nguyen, Nguyen, Che and Mahony, 2017 ITIS "Synonym(s): Megophrys elfina"

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]